- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CU SỨT

12 Tháng Tư 20182:22 CH(Xem: 52401)

29573257_625344441130755_4807681891976822327_n
Biển - photo UL



 

Bằng này giờ chiều chắc cu Sứt đang bò ra nền nhà bậm môi viết chính tả.

Nhà cu Sứt có cu Sứt, có dì và có cha. Nhà tôi chỉ có 2 mẹ con, vì cha đã ở bên nhà cu Sứt.

Tôi ngồi thõng chân trên chạc ba của cây chùm ruột ngọt. Ăn một nửa, nhả một nửa xuống gốc cây. Chùm ruột đất cát mà lạt phèo và không chua, lái chê không thèm mua , vậy là tôi mới có nguyên cây chùm ruột trĩu quả mà cu Sứt ngày nào cũng ngước nhìn nhểu nước miếng từ đôi môi trên bị hở hếch lên ăn rộng tới lỗ mũi. Đầu óc tôi sao lúc nào cũng phải bận tâm vì thằng cu Sứt. Dù tôi lúc nào cũng muốn vứt nó ra sao ót! 

Tiếng mẹ gọi cắt ngang dòng suy nghĩ không đầu đuôi của tôi:

-              Nhiên à, vào mẹ nhờ chút xíu!

Mẹ tôi ngồi trên chiếc đòn bằng gỗ, mặt đỏ hồng trước chảo bánh xèo loang loáng mùi mỡ nước thơm lừng. Tôi trợn mắt:

-              Trời, mẹ đổ bánh xèo cho cả xã ăn hay sao?

Mẹ lẳng lặng lựa mấy cái bánh xèo tròn đều vàng rộm to nhất gói vào lá chuối, xếp ngay ngắn hết sức tưng tiu vào một giỏ tre , rồi ngước lên nhìn tôi:

-              Con chạy ù đem cái này qua cho cu Sứt ăn cho nóng.

Cục tức chặn ngang cổ làm tôi hầu như gầm gừ trong cuống họng:

-              Cái gì cũng cu Sứt. Không có mẹ cả nhà nó cũng không có đói mà! Con thì không cần ăn sao?

Đôi mắt của mẹ tối sầm lại, rồi ươn ướt nước , tia nhìn đầy cam chịu, van lơn:

-              Mẹ xin con! Dì bận chăm cho cha nên em chắc không có đầy đủ ăn như nhà mình.

-              Thôi nha, con ghét cái kiểu này của mẹ lắm rồi! Cả đời làm người tốt có lỗi, người tốt chịu thiệt thôi!

Tôi hậm hực, lôi cái giỏ tre ào ào ra cửa ngõ. Đến góc khuất sau rặng tầm vong đầu ngõ, nhìn trước, nhìn sau không thấy ai, tôi lật đật giở cái giỏ tre, lật tấm lá chuối ra, nhổ một bãi nước miếng chà đều lên lớp bánh xèo đang nóng rồi gói lá chuối  lại, mặt câng câng đi tiếp.

 

Tôi vừa đá vào cánh cổng rào là cu Sứt chạy ào ra ngọng líu:

-              A, chị Hiên, qua chơi với em hả?

-              Nhiên chứ Hiên cái gì, thằng ngọng! Tôi trợn mắt.

Cu Sứt tiu nghỉu cúi đầu. Tôi vứt cái giỏ tre vào chân nó:

-              Bánh xèo đó, ăn đi. Mẹ tao cho.

Cu Sứt mừng rỡ, lập cập gỡ ngay lớp lá chuối hít lấy hít để:

-              Hời ơi, thơm quá,  ngon quá. Cảm ơn má Hai…

Cục tức lại trồi lên , nóng bỏng, bắn ra khỏi miệng tôi như tia chớp:

-              Má Hai nè…

Chân tôi đá cái giỏ tre lăn lỏng chỏng, bánh xèo văng hết ra ngoài đất cát. Cu Sứt đứng sững sờ nhìn tôi, miệng mếu xệch, nước mắt chảy thành dòng trên má. Tôi đang gườm gườm nhìn nó thì dì đẩy cánh cửa gỗ bước ra:

-              Chuyện gì ồn ào vậy Sứt?

-              Con làm té, rớt hết bánh xèo…cu Sứt lật đật lấy mu bàn tay quệt ngang mắt, lom khom lượm bánh bỏ vào giỏ tre. Tôi đùng đùng bước ra khỏi cửa rào:

-              Tôi đi về!

Tiếng cha từ trong nhà gầm ghè đuổi theo:

-              Con nhà mất dạy, đến không chào hỏi ai, nói đi là đi….

Tôi chạy ào ào trên con đường đê, gió thổi vùn vụt rin rít qua hai tai buốt giá. Tiếng cha riết róng lùng bùng trong tai. Xoáy như lốc trong đầu. Tôi chut tọt hẳn vào hốc cây đa khuất sau rặng tre, kéo lớp rể đa dày như tấm màn buông xuống . Rồi chúi mặt vào lớp vỏ đa sần sùi gào lên:

-              Tôi là Con nhà mất dạy vì ông đâu có bao giờ dạy tôi!

Rồi gạt nước mắt, tôi bước ra khỏi hốc đa. Mặt lại câng câng , tiếp tục chạy đi trong gió mùa Đông bắc rin rít.

             *    *   *


Tôi sinh ra vào đêm rằm tháng Bảy. Tháng cô hồn. Người ta nói gái đêm Rằm , trai mùng Một. Tôi là con gái, tôi sinh đêm Rằm. Nhưng cha tôi và cả nhà nội không chờ mong một đứa con gái. Nhất là con gái sinh vào tháng cô hồn. Cha tôi chưa bao giờ yêu tôi. Thường khi giận tôi hay giận mẹ cha vẫn gọi tôi là con cô hồn, con quỷ sứ!

Năm tôi lên 7 tuổi, cha tôi bắt đầu bỏ đi theo người đàn bà khác. Người này da trắng không đen bánh mật như mẹ tôi và bán hàng xén trong chợ. Trong khi mẹ tôi lầm lũi đi hay cúi đầu xuống đất, tướng khổ như bà ngoại hay thở dài nói, thì người đàn bà này hay cười, hay nói. Mắt đen nhánh tít lại như hai chiếc lá răm, giọng ngọt ngào ướt rượt như khoai lang mật.

Cha tôi ngày càng ít về nhà, mẹ tôi ngày càng thêm lầm lũi và hay thở dài.

 

Mỗi bận cha vội vàng ghé nhà lấy ít áo quần để đi tiếp,mẹ tôi lăng xăng chạy ra chạy vào cười như có nắng trong nhà, lật đật tíu tít sắm sửa làm đủ món ngon để níu chân cha tôi. Tôi ngồi hậm hực trong  một góc nhà, nhìn dáng mẹ tất bật ra vào, hai ống quần dính lấy nhau, và nhìn cha tôi hờ hửng lạnh lẽo ngồi nhấp nhổm trên bộ ván ngựa, mắt cứ nhong nhóng về phía đường lộ. Nổi đau đớn và hờn giận nghi ngút như khói đốt rạ trên đồng âm ỉ  trong lòng tôi.

Lần cuối cùng cha về nhà là khi mẹ tôi đang làm món khoai lang khô ngào đường mà cha tôi yêu thích. Tôi nhớ cha mặc bộ đồ bà ba lụa trắng ngà ủi thẳng láng ngồi bên bàn uống trà, mẹ tôi hớn hở bưng dĩa khoai lang dẻo quẹo thơm lừng mùi đường mía và cơm dừa nạo đặt bên cạnh cha.

-              Khoai lang khô mới ngào đường, ông ăn đi cho nóng.

-              Giữa bữa, tự nhiên bắt ăn khoai lang- Cha tôi hắt dĩa khoai qua một bên,cau đôi mày rậm đen gắt gỏng.

-              Thì hồi giờ tôi thấy ông thích ăn khoai lang khô ngào đường- mẹ tôi cúi đầu nghẹn giọng.

-              Hồi đó thích, bây giờ hết thích rồi. Bắt người ta thích hoài một món sao? Ngán bắt chết! người gì đâu mà chậm quá, không hiểu ý gì hết!

-              Phải rồi , tôi chậm. làm sao nhanh bằng người ta ở chợ.- Giọng mẹ tôi đầy tủi hờn.

Cha tôi đập bàn gầm lên:

-              Lại giở cái giọng đó ra rồi.  Chán lắm rồi ! Về cái nhà này nghe than thở, khóc lóc là muốn đi ra đường nữa rồi!

Cột khói  nóng bỏng trong lòng bốc lên ngùn ngụt mờ hết hai mắt tôi. Tôi vụt bật dậy từ góc nhà, chạy ra vục tay vào dĩa khoai bốc ăn lấy ăn để, nhét đầy hết trong mồm, vừa ăn trợn trạo vừa nhìn cha tôi trừng trừng. Cha cũng nhìn lại tôi sững sờ, chết sững. Cho đến khi không ăn nổi nữa, tôi nghen họng rồi nôn thốc nôn tháo ra khắp sân gạch. Mẹ ôm lấy tôi nước mắt trào ra như mưa.

Cha đi sòng sọc ra cửa, quay lại nhìn tôi chỉ một lần duy nhất:

-              Con quỷ sứ!

Và đó là lần cuối cùng cha về nhà.


Năm tôi lên 12 tuổi, học trường huyện xa, cha tôi cũng gửi về nhà một cái xe đạp màu hồng như đền bù cho tôi. Tôi lập tức lấy ngay sơn màu đen trét lên khắp xe vằn vện như con chó khoang. Tôi không thích ai thương hại, lại càng không thích màu hồng. Ai gán tình yêu với màu hồng. Tôi nghĩ tình yêu của cha tôi hẳn phải là màu đen, đen như trái tim tăm tối của ông, chỉ có nhân danh một tình yêu màu đen đặc sệt mù quáng như thế người ta mới có thể vứt bỏ một đứa con, một người vợ đã cũ  chạy theo người đàn bà khác trẻ hơn tốt hơn như cha tôi thường hảnh điện nói.

Cha bị tai biến không lâu sau đó, bại hẳn một bên người. Nhưng không phải vì cái màn ăn khoai lang khô hay trét sơn đen lên xe đạp của tôi  , mà vì dì đẻ ra cu Sứt.

Từ trong bụng mẹ, cu Sứt đã được chằm bặp yêu thương, tẩm bổ nâng niu vì ông thầy thuốc Bắc, sau khi bắt mạch  bảo đảm cái thai là nam quý tử. Nhà nội thì thầm với mẹ tôi, thôi thì nhịn nhục chịu đựng cho chồng có con trai nối dõi tông đường, cho cái Nhiên còn có cha. Và từ đó , không ai trong nhà nội ghé nhà hai mẹ con tôi nữa. 

Đêm cu Sứt chào đời,  cũng một đêm rằm tháng Mười, rằm lớn cuối cùng của năm. Cả nhà hớn hở tập trung hết ở nhà bảo sanh chờ từ sáng sớm cho đến khuya. Lúc tiếng khóc ngàn ngạt của cu Sứt vọng ra, cả nhà xúm quanh cánh cửa phòng sanh chờ đợi xem mặt cháu đích tôn. Sau đó chỉ có tiếng hét lớn của cha tôi và sự im lặng của tất cả những người còn lại. Cu Sứt không có môi trên, một đường nứt đỏ hỏn nối liền cái lợi và lổ mũi.

Sáng hôm sau, người nhà bắt gặp cha tôi té nửa nằm nửa ngồi trên giường. Sau một tháng chạy chữa, cha tôi yếu hẳn một bên người và đi lại rất khó khăn.

Mất thêm tiền chạy chữa cho cha rồi chạy hết bệnh viện này qua bệnh viện khác chữa cái môi trên  cho cu Sứt, nhà nội tôi hầu như khánh kiệt. Chỉ còn trông mong vào mẹ tôi làm vườn và làm ruộng lo cho cả nhà. May mà ruộng nhà tôi trúng mấy mùa liên tục. Và mẹ tôi lại hớn hở đi qua đi lại như con thoi giữa nhà tôi và nhà dì , bế ẵm nâng niu cu Sứt như thể nó là con ruột của mẹ.

Cha tôi hầu như chẳng bao giờ bước chân về nhà mẹ con tôi. Cũng chẳng bao giờ nhìn thẳng vào mặt mẹ tôi được nữa.

Người ta nói đó là do phức cảm tội lỗi , thứ tình cảm pha trộn mặc cảm phức tạp của người xấu. Không dám nhìn sâu vào tội lổi của mình. Và người xấu cứ thế quay đầu luôn với lương tri của mình.

Chỉ có người tốt là có thể làm hết mọi điều giùm cho người xấu. Nhìn vào mẹ tôi , tôi tin là như thế!


*   *   *

Mẹ tôi chết thanh thản khi đang ngủ. Mẹ mặc bộ đồ bà ba nâu bạc màu thường ngày, tóc đen nhánh trên gối, miệng vẫn còn hơi nhếch cười, như trong mơ mẹ lại gặp cha ngồi bên bàn nhắp trà sen và khen tay mẹ ướp trà thơm không ai sánh bằng.

Sau đám tang của mẹ , cả nhà kéo về bên nhà tôi. Trước bàn thờ mẹ, cha ngồi một  bên, dì ngồi một bên và cu Sứt chui vào một góc nhà như tôi ngày xưa. Họ hàng bên nội quanh quẩn ngoài sân thì thầm nói chuyện. Tôi lặng lẻ ngây ngây người, như chưa thể quen với việc mẹ đã bỏ tôi ở lại một mình và đi xa mãi rồi.
Cha tôi mở lời nói trước, e dè:

-              Mẹ vắn số, chết rồi. Bây giờ con muốn về ở với dì và em hay là cả nhà qua đây ở với con cho gần gủi?

-              Không còn mẹ, thì còn dì, dì sẽ thay mẹ chăm sóc cho con. Dì cũng nhỏ nhẹ góp vào.

Mắt tôi nhắm nghiền lại rồi vụt mở to ra, bụng dạ nôn nao như đang phải nhai nuốt cả dĩa khoai lang khô ngày xưa. Tôi chạy ra ôm lấy bàn thờ của mẹ:

-              Mẹ tôi còn ở đây, tôi không đi đâu hết. Tôi cũng cấm không ai được đặt chân vào nhà của mẹ con tôi!

Cha tôi bật khóc, lần đầu tiên trong đời tôi thấy cha tôi khóc:

-              Cha biết cha có lổi với hai mẹ con. Cha muốn chuộc lổi.

Tôi gào to lên:

-              Các người xấu, sao các người còn sống và sung sướng thế này? Sao mẹ tôi phải chết? Sao người tốt lúc nào cũng chịu thiệt? Sao người tốt phải chết?

Tôi bỏ chạy ra khỏi nhà, khăn tang tuột xuống vai, tôi vứt cả khăn tang sau lưng. Cánh đồng rạ sau mùa gặt đâm nhức nhối dưới gót chân.

Tôi nằm co mình trong hốc cây đa quen thuộc đã trọn một ngày, chẳng ai buồn đi tìm tôi. Sau tấm màn bằng rể đa dày chằng chịt, trời đã tối mịt. Rặng tre xào xạt và những đám lân tinh nhấp nháy loang ra cả cánh đồng. Tôi không nhát ma đâu, ở một mình với mẹ tôi đã quen thức đêm kéo nước giếng, ma trơi hay lân tinh với tôi là chuyện thường. Tôi chỉ thấy váng vất buồn ngủ và xoay xoay như thể người sắp sửa bay lên. Biết đâu tôi sẽ gặp mẹ khi bay lên, giờ này mẹ tôi hẳn đang bay là là trên cánh đồng và tìm tôi. Tôi bật rên khẻ:

-Mẹ ơi!

Có tiếng thút thít ở sát bên cạnh làm tôi giật nảy mình, một bóng gầy gò nhỏ thó đã len vào sát cạnh tôi.

-Chị Hiên…

Thì ra cu Sứt. Tự nhiên tôi thấy lòng ấm lại. Tôi kéo nó sát vào người , thì thào:

-Sao mày biết chổ này?

-Em đi tìm chị khắp nơi. Thấy gốc cây đa này có nhiều ánh sáng, em nghỉ  chắc là chị ở đây rồi. Má Hai chỉ đường cho em !

Tôi cốc lên đầu nó:

-Chỉ nói vớ vẫn, lại theo rình mò tao chứ gì.

Cu Sứt lôi trong người ra một bọc âm ấm:

-Khoai khô ngào đường này, chị ăn đi kẻo đói. Em làm đó. Má Hai dạy em làm hồi xưa.

Một giòng nước mắt rỉ ra rớt xuống tay tôi nóng hổi. Tôi quờ tay nắm chặt lấy đôi vai gầy guộc của nó:

-Thôi hai chị em mình về , ở đây lạnh lắm rồi.

Cu Sứt mừng ríu cả lưỡi:

-Ui, mình về chị Hiên.

-Chị Nhiên chứ - tôi nhéo tai nó - dạy bao nhiêu lần cũng không sửa được.

Bên ngoài gió lạnh vù vù thổi nhưng bọc khoai ủ trong tay tôi ấm sực. Đám lân tinh vẫn lập lòe phía trước như dẫn đường.

 

UYÊN LÊ

 

Ý kiến bạn đọc
15 Tháng Tư 201811:24 SA
Khách
Câu chuyện thật cảm động . Đọc mà cứ cay cay mới sống mũi. Một mẫu hình của người phụ nữ trong xhpk
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
27 Tháng Mười 202612:42 SA(Xem: 127)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 20264:25 CH(Xem: 709)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 202610:24 CH(Xem: 915)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 20269:55 CH(Xem: 999)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
19 Tháng Mười 20268:44 CH(Xem: 1376)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1496)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1649)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
18 Tháng Mười 20265:10 CH(Xem: 1130)
Chỉ 46 ngày sau thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26/8/2026, một trận lũ quét khác lại xảy ra vào sáng 11/10 trên sông Budhi Gandaki, thuộc huyện Gorkha, Nepal. Khi nhiều gia đình còn chưa đến ngày tưởng niệm 49 ngày cho người thân đã khuất, những cộng đồng miền núi lại phải đối diện với cảnh di tản, nhà cửa và cầu đường bị cuốn trôi, cùng nỗi lo về những trận lũ bất ngờ có thể tiếp diễn.
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1244)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
18 Tháng Mười 202612:01 SA(Xem: 1366)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3767)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13193)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19601)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18587)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1496)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1649)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2156)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2288)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1376)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2115)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1880)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1939)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1244)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2286)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2509)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2302)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 127)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 709)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 915)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 999)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6334)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15825)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32082)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38802)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1366)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13852)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6812)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10585)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9772)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9904)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10703)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3396)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11064)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10287)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi