TRỤ ÐỒNG MÃ VIỆN: Sự Ðàn Hồi Của Biên Giới Ðế Quốc Trung Hoa
[Ma Yuan’s Copper Poles: The Elascity of the Border of the Chinese Empire]
© 2010, 2011 by Van Hoa Publishing Co. All Rights Reserved
Hợp Lưu Magazine (Fountainvalley,
CA), số 110 (tháng 6-7/2010), tr.
5-36;
Cuộc dấy binh của Hai Bà Trưng năm 40 được
coi như trang đầu bi hùng của Việt sử dài theo cuộc chiến vệ quốc trường kỳ,
liên lũy suốt hai thiên kỷ. Hàng năm, giỗ hai Bà cử hành ngày 6/2 âm lịch [hiện
thay thế bằng ngày 8/3 TL, tức ngày Phụ nữ]. Trong khi đó, Phục ba tướng quân
Mã Viện [Ma Yuan] trở thành biểu tượng của chính sách thực dân Ðại Hán [Ta Han hegemonism hay Hanism], mối đe dọa thường trực của các
lân bang nói riêng, và nền hòa bình thế giới nói chung. Huyền thoại chị em hoặc
vợ chồng Trưng Vương nổi dạy chống Hán cùng chiến công tái chiếm cổ Việt của Mã
Viện, vẫn được lưu truyền với nhiều xúc động. Những bài học sử đồng ấu và tiểu
học tại hai nước láng giềng hoàn toàn đối nghịch. Sử quan Trung Hoa, bất kể màu
sắc ý thức hệ, khoác lên Trụ đồng Mã Viện—với lời thề “đồng trụ triết, Giao Chỉ diệt” —lớp son phấn khai hóa và thiên mệnh
thôn tính thiên hạ. Sử quan Việt chép hai bà Trưng làm một kỉ riêng, như bước
diễn tập cho nền tự chủ. Thành ngữ “Giặc
đến nhà, đàn bà phải đánh” trở thành biểu tượng của tinh thần kháng Hán, vệ
quốc.
Bài viết này duyệt lại huyền thoại trụ đồng
Mã Viện xuất hiện từ khoảng thế kỷ thứ IV-V, nhưng không hề có dấu vết trên thực
địa hay trong quốc sử Hán. Những dã sử về số lượng và vị trí trụ đồng chẳng những
thiếu cơ sở, mà còn di động, từ châu Khâm tới Hà Tiên-An Giang—không ngừng nam
tiến, giống như tấm bản đồ biển Ðông Bắc Kinh mới công bố năm 2009, ấn chứng của
“thực dân xã hội chủ nghĩa” [Han social-colonialism],
vò đựng mới cho tinh thần Ðại Hán phong kiến.
Làm việc theo phương pháp tỉ đối nhiều nguồn
tư liệu, chúng tôi tạm thời kết luận rằng—cho đến khi có tài liệu chứng minh
ngược lại—huyền thoại trụ đồng đã được ngụy tạo và sử dụng trong những cuộc tranh
chấp biên giới, thực hay giả, nhằm phục vụ mục tiêu nhất thời nào đó.
Sơ thảo năm 1979, khi tác giả khởi đầu
chương trình thế giới sử tại Ðại học Wisconsin-Madison, dưới sự hướng dẫn của cố
Giáo sư John R. W. Smail, và sự giúp đỡ nhiệt thành của Giáo sư địa lý học Ðông
Nam Á Daniel F. Doeppers—khi chính sách không công nhận ngoại giao và cấm vận
kinh tế của Liên Bang Mỹ khiến thông tin về Việt Nam cực kỳ hiếm hoi—tác giả đã
tổng hợp và so sánh nhiều tư liệu cổ sử, địa lý cổ thời, khảo cổ học và nhân chủng
học. Ba chục năm sau, nguồn thông tin phong phú hơn, nhờ sự cải thiện bang giao
hai nước, cùng những chuyến du khảo sau ngày tốt nghiệp. Ðặc biệt hữu ích là bộ
Lịch Vạn Niên của Lý Quí Ngưu giúp
chuyển từ ngày âm lịch qua tây lịch do Giáo sư Mai Quốc Liên tặng, và bản dịch
mới nhất ÐVSKTT của Ngô Sĩ Liên et al, do bào huynh Vũ Ngự Triệu mua tặng trong
chuyến về quê tu sửa từ đường và phần mộ tiền nhân.
CHÍNH ĐẠO
I. CUỘC
KHỞI NGHĨA CỦA HAI BÀ TRƯNG (40-43):
Tháng 3/40, đời Lưu Tú hay Văn Thúc (Hán
Quang Vũ, 25-55), hai Bà Trưng dấy binh ở quận Giao Chỉ. Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều
hưởng ứng. Thái thú Tô Ðịnh (34-40) chạy về Nam Hải (Quảng Ðông ngày nay). Bà
Trưng Trắc tự lập làm vua. Ðóng đô ở Mê Linh.
Vì cổ Việt không có chữ viết riêng, và/hoặc
hủ tục mà thế giới lên án là mọi rợ văn hóa [cultural barbarism] đã hủy diệt mọi di tích cổ Việt, sử quan đời
sau đành dựa theo truyền thuyết và thư tịch Trung Hoa để tái dựng Kỷ Trưng Nữ
Vương, được vỏn vẹn mươi trang giấy. Và, giống như bất cứ cuộc kháng Hán nào của
người Việt, sử sách Trung Hoa chỉ chép trong mục “làm loạn” hay “chinh thảo,”
giọng điệu khinh bạc. Trong khi đó, sử quan Việt đánh giá như bước diễn tập cho
cuộc khai phục quốc thống, giành tự chủ—theo công thức Việt tự chủ/ bá quyền Hán.
A. DIỄN BIẾN:
Sử quan Việt ghi:
Canh
Tí, niên hiệu Kiến Vũ thứ 16. Mùa Xuân, tháng Hai. Người nữ Giao Chỉ là Trưng
Trắc dấy binh chống thái thú Tô Ðịnh, đuổi hắn, tự xưng vua [Canh Tí. Hán Kiến Vũ thập lục niên. Xuân nhị
nguyệt. Giao Chỉ nữ tử Trưng Trắc khởi binh công thái thú Tô Ðịnh, trục chi, tự
lập vi vương]. (1)
Lê Tắc, tác giả An Nam
Chí Lược [ANCL], thế kỷ XIV, chép theo quan điểm Hán:
Người
nữ Giao Chỉ là Trưng Trắc làm loạn, Cửu Chân, Nhật Nam hưởng ứng, tấn công các
quận ấp, chiếm được 60 thành, tự xưng làm vua [Giao Chỉ nữ tử Trưng Trắc phản, Cửu Chân Nhật Nam giai ứng chi, công
duyên quận ấp, lược lục thập thành, tự lập vi vương.] (2)
Nguyên văn diễn âm đoạn Quảng Châu Ký về Bà Trưng, trong Mã Viện
truyện của Hậu Hán Thư, như sau:
Hậu
Chu Diên lạc tướng danh thi sách mê linh, Lạc tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê
Trắc vi nhân hữu đảm dũng tướng thi khởi tặc công phá châu quận phục chư lạc
tướng giai thuộc Trưng Trắc vi vương trị Mê Linh huyện phục Giao Chỉ Cửu Chân
nhị quận dân nhị tuế điệu phú.
Hậu
Hán khiển Phục Ba tướng quân Mã Viện tương bình thảo Trắc Thi tẩu nhập Kim Khê
cứu tam tuế nãi đắc.
Nhĩ
thì Tây Thục tịnh khiển binh cộng thảo Trắc đảng tất định quận huyện vi lệnh
trưởng dã”
[Quảng
Châu Ký (III-IV); Tư Mã Trinh, Sử Ký sách ẩn (VII-VIII), dẫn Giao Châu Ký của
Diêu Văn Hàm]
Lối
viết ngắn gọn, không dấu chia câu hay kết đoạn, không phân biệt tên người, tên
đất trong sách cổ khiến văn gia Việt và Hoa đi đến những diễn giải khác nhau.
1. Về thân thế Hai Bà Trưng, Cương Mục Tập Lãm và Thủy Kinh Chú—do nhóm Li Dao-yuan [Lịch
hay Lệ Ðạo Nguyên, (ca 466 [472]-527) diễn giải sách cổ Thủy Kinh của Tang Khâm [?], nhưng
cũng nguồn tư liệu chính của sử quan Việt và Hoa—giải thích Trưng vương nguyên họ Lạc, con gái Lạc tướng
huyện Mi [Mê] Linh. Sau khi lên ngôi đổi sang họ Trưng. Ngô Sĩ
Liên đặt nghi vấn chi tiết họ Lạc, trong khi sử quan Nguyễn chép “Vương vốn họ
Lạc, lại có họ riêng là Trưng” (dựa theo Cương
Mục tập lãm). Sử quan Tây Sơn (Ngô Thì Sĩ et al) chỉ ghi họ Trưng.(3) Thực
ra, Lạc hay Trưng cũng không đúng hoàn toàn. Ðó chỉ là cách người Việt xướng âm
hai chữ Hán “Lạc” và “Trưng.” Tên họ hai bà vẫn chưa ai biết.
2.
Bà Trưng đã lập gia đình với con trai Lạc tướng Chu Diên là Thi Sách (theo sử
Việt) hay Thi (dã sử Trung Hoa). Trong đoạn “Hậu
Chu Diên lạc tướng danh thi sách mê linh lạc tướng nữ danh trưng trắc vi thê,”
sử quan Việt đọc hai chữ thi sách thành Thi Sách (họ Thi, tên Sách), nhưng văn gia Hán hiểu chữ “sách”
là lấy,
không phải tên: Như thế, “con trai Lạc tướng Chu Diên tên Thi lấy con gái Lạc
tướng Mê Linh tên Trưng Trắc làm vợ.” (4)
3.
Sử Việt còn ghi bà Trưng đã dấy binh báo thù chồng bị Tô Ðịnh giết, trong khi
dã sử Trung Hoa ghi cả hai vợ chồng cùng nổi lên kháng Hán [Trắc vi nhân hữu đảm dũng tướng Thi khởi tặc công phá châu quận phục
chư lạc tướng giai thuộc].
4. Ða số sử quan Việt ghi Bà Trưng thu phục
được 65 thành ở Lĩnh Nam
(phía nam núi Ngũ Lĩnh), tự xưng làm vua. Bảng nhãn Lê Văn Hưu, soạn giả bộ quốc
sử đời Trần (1226-1400), nhận định: Hai bà Trưng “hô một tiếng mà các quận Cửu
Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước
xưng vương dễ như trở bàn tay.” (5) Bảng Nhãn Lê Quí Ðôn, ghi 65 thành, nhưng
chỉ liệt kê được 56 thành theo Ðông Hán Chí [địa dư chí của Hậu Hán thư], với phụ chú: “Ðời xa, sự
tích mai một; các thành huyện xưa nay không biết ở những xứ sở nào, dấu cũ
không còn mấy;” chỉ còn lại Long Biên và Phong Khê (Yên Lãng).” (6) Lê Tắc ghi
60 thành. Ngô Thì Sĩ ghi 56 thành; có lẽ dựa theo Hậu Hán Thư, rằng thuộc địa Giao Chỉ bộ
gồm bảy [7] quận, 56 thành—Nam
Hải (7 thành), Thương Ngô (11), Uất Lâm (11), Hợp Phố (5), Giao Chỉ (12), Cửu
Chân (5), Nhật Nam (5). Nhóm sử quan Tây Sơn và Phan Huy Chú ghi
là hơn 50 thành. (7)
Nhưng Hai bà Trưng có thể chỉ chiếm được 27 thành ở Giao Chỉ, Cửu Chân và Hợp
Phố. Thủy Kinh Chú ghi Trưng Vương thu thuế,miễn thuế hai quận Cửu Chân và Giao Chỉ hai năm, tức thực sự cai trị
chỉ có 22 thành. (8) hay
Chúng ta chỉ biết hai bà đã lên ngôi vua,
nhưng không rõ tổ chức chính quyền, hay quân đội. Truyền thuyết về các nữ tướng,
hay anh hùng dân gian tham dự cuộc dấy binh quá sơ lược. Ngay đến vị tướng bị
Mã Viện đả bại ở Cửu Chân và 5,000 người bị thảm sát cũng chịu cảnh liệt sĩ vô
danh.
Những chi tiết ngắn ngủi dị biệt về Hai Bà
Trưng—cùng nhiều tác nhân lịch sử khác—là điều khó tránh. Thứ nhất, văn sử về
Bà Trưng chủ yếu dựa trên tài liệu tuyên truyền Bắc sử, theo đó cuộc khởi nghĩa
được tóm lược như phản loạn, phụ chú bên lề [anecdotes] chính sách tham ô, bạo
ngược của Tô Ðịnh (34-39), cùng chiến công của Mã Viện. Thứ hai, truyền khẩu sử
khó tránh khỏi yếu tố thần thoại đương thời, rồi thêm thắt chi tiết theo thời
gian. Thông tin khả tín, đáng ghi nhớ, là Trưng Vương phất cờ tiên phong khởi
nghĩa chống lại ách đô hộ Hán từ năm 40 tới 43. Hai bà là những người đầu tiên,
nhưng không phải cuối cùng, đã viết nên lịch sử dân tộc Việt suốt hai nghìn năm
luôn luôn bị đe dọa tận diệt hoặc đồng hóa. Tư liệu Trung Hoa khẳng định điều
này, và cũng xác nhận Bà Trưng đã xưng vương.
Vì lý do nào đó—có thể vì hủ tục trọng
nam, khinh nữ—sử quan Việt chưa dành cho Hai Bà Trưng vị trí xứng đáng hơn
trong quốc sử. Ngọn đuốc kháng Hán đã thắp lên từ hai Bà Trưng—không phải thái
thú Sĩ Nhiếp, Giám quân Lý Bôn tự Bí, hay Bố Cái Ðại Vương. Và cũng có thể từ đời
Lưu Tú, nhà Hán mới trực trị, khởi sự đồng hóa dân cổ Việt qua giáo dục, tập quán
(cưới hỏi) và khai thác kinh tế. Vì thế, sau cuộc khởi nghĩa của hai Bà, suốt
thời Ðông Hán, loạn lạc khắp nơi, khác hẳn với sự im lặng khó hiểu và khá dài từ
207 TTL tới đầu thiên kỷ thứ nhất Tây lịch.
5. Vấn đề lãnh thổ vương quốc thời hai Bà
Trưng cần những nghiên cứu nghiêm túc mới. Sử sách Trung Hoa hàm ý hai Bà chỉ
cai trị được Giao Chỉ và Cửu Chân. Tại những quận huyện khác, Thứ sử và các
thái thú chỉ lo tự bảo toàn. [Giao Chỉ thứ
sử cập chư thái thú cẩn đắc tự bảo]. (9) Theo Quận Quốc Chí trong Hậu Hán Thư, khoảng năm 110-106 TTL, Lưu
Triệt đã chia vương quốc Nam Việt cũ thành chín [9] quận, thuộc Giao Chỉ Bộ, dưới
quyền Thạch Ðái. Ngoài hai quận Chu Nhai, Ðam Nhĩ ngoài biển, bảy quận còn lại
nằm về góc đông nam Hoa lục. Cho tới năm 264, phần Giao Chỉ Bộ trên đất liền vẫn
giữ nguyên tên bảy quận Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô, Giao Chỉ, Cửu
Chân và Nhật Nam. Những thay đổi lãnh thổ không được ghi chép. Có thể sử quan
Hán tộc kiến thức hời hợt về cõi ngoài hoang vực—gọi chung là xứ mọi rợ, man di—nhưng
không thể không nghĩ đến dụng tâm chính trị của vua quan Hán.
Hai vấn đề nổi bật lên trên lãnh vực địa
lý. Thứ nhất, không rõ số phận của quận Tượng đời Tần ra sao. Theo Tiền Hán Thư, Lưu Phất Lãng (Hán Chiêu đế,
86-74 TTL) bỏ quận này năm 76 TTL, ghép đất vào Uất Lâm [Yu lin, đông nam Quảng
Tây] và Thương Ngô [Tsang ko, tây Quí Châu]. (10) Nhưng khoảng hơn 30 năm trước,
tại sao Tượng Quận bỗng biến dạng, hoặc bị bỏ quên trong giai đoạn 110-76 TTL?
Nếu Lưu Triệt đã chia Tượng Quận làm Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam sau khi diệt
Nam Việt, tại sao năm 76 TTL còn mất công xoá tên, và Lưu Phất Lãng lấy đất nào
để chia cho Uất Lâm và Thương Ngô? Ngắn và gọn, văn gia đời sau đã tái dựng những
việc Tượng Quận, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam hay Lâm Ấp, và mức khả
tín là những dấu hỏi lớn. Không chỉ về sử liệu (như gán ghép “Thương Ngô” vào
cái chết của cha con Ðiêu Trùng Hoa (Thuấn, 2255-2208 TTL) mà còn dụng tâm
chính trị của thời họ. (11)
Thứ hai, từ năm 135 TTL, Lưu Triệt đã xâm
lược Dạ Lang (dân Miêu) lập ra quận Tường Kha, và Ðiền (Tien, Lạc, tây Vân
Nam), tách khỏi Nam Việt. Cũng có tin Thương Ngô tách ra từ Dạ Lang cũ, lệ thuộc
vào Nam Việt trước ngày Lộ Bác Ðức “giết Lã Gia, mở 9 quận.” Thương Ngô vương
Triệu Quang (thông gia của Tể tướng Lã Gia và cùng họ với vua Nam Việt) xin
hàng ngay khi nghe tin Bác Ðức đến. Trong khi đó, Giám quận Quế Lâm là Cư Ông
khuyên dụ Âu, Lạc hàng. (12)
Cách nào đi nữa, Henri Maspéro đã đi quá
xa khi qui trách mọi lỗi lầm của Tiền Hán
Thư cho sự dốt nát về địa lý của Vi Chiêu, Vương Ẩn, Chu Khứ Phi v.. v.. Họ
có lý do riêng khi cung cấp những chi tiết hỗn độn trên. Trong thời gian 675-680, Hoàng Thái
tử/Giám quốc Lý Hiền (654-684), con thứ 6 Ðường Cao Tông và Võ Hậu, chẳng
hạn, sai Trương Ðại Yên và
Lưu Nạp Nguyên chú giải Hậu Hán Thư
của Phạm Việp (398-446). Ðỗ Hữu
(735-812) là cựu kinh lược Lĩnh Nam, và hoàn tất Thông Ðiển trước khi về triều làm tể tướng năm 803. Hữu liên hệ đến
cuộc tấn công Hoàn Vương (Lâm Ấp) vào đầu thế kỷ IX (809), khi tình hình Giao
Châu hỗn loạn [nổi dạy của Bố Cái Ðại Vương (791), và rồi cuộc nổi loạn của
binh sĩ chống Bùi Thái]. Cũng thời gian này, truyền thuyết Mã Viện phục sinh.
Phong trào “kim tiêu”—dựng trụ đồng
làm biên giới theo gương Mã Viện—được phát động. Ở kinh đô, Ðỗ Hữu rao giảng
thuyết Nhật Nam là Tượng Quận nhà Tần, trong khi tại thực địa vài đô hộ dựng trụ
đồng mới “tại chỗ cũ.” (13)
Như một hệ luận, không thể không tự hỏi
đâu là thời điểm chính xác Nhật Nam được đặt “vào bản đồ” đế quốc Hán? Có tin đời
Triệu lập ra Nhật Nam—bởi thế có sách chép ba đại diện ở cổ Việt, tương ứng với
Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam đón đường Bác Ðức ở Hợp Phố xin nộp trâu, rượu
và sổ bạ dân quận xin hàng. Nhưng sử quan Tây Sơn và Nguyễn bác thuyết này. Lý
do đưa ra là trước đó, năm 198 TTL, Triệu Ðà chỉ gửi hai sứ giả qua cai trị Âu
Lạc cũ. Từ năm này tới năm 111 TTL, không có tin nào về sự thay đổi quận huyện ở
Âu Lạc cũ. Mãi tới năm 110 TTL hay 106 TTL, Lưu Triệt mới tách năm [5] huyện ở
phía nam Cửu Chân ra, đặt quận Nhật Nam.
Ngay thời điểm 110-106 TTL cũng cần nghiên
cứu thêm. Khoảng hơn một thế kỷ sau, Lưu Trang (Hán Minh đế, 58-75) còn rất mù
mờ về Nhật Nam. Mặc dù Hậu Hán Thư ghi
tên năm [5] thành Tây Quyển, Chu Ngô [dọc bãi biển], Lư Dung [có bến tìm vàng],
Tượng Lâm [sau là Lâm Ấp], Tị Ảnh, với 15,460 hộ và 60,485 nhân khẩu—nhưng Phạm
Việp hoàn tất sách vào thế kỷ thứ V, khi “Nhật Nam” đang do Lâm Ấp quản trị (trễ
nhất từ năm 242) và quan lại Hán đặt một hành lị sở ở Cửu Chân để chờ ngày tái
chiếm. (14) Rất có thể Nhật Nam chỉ tách ra thời Lưu Phất Lãng hay Vương Mãng
(8-23), hoặc sau cuộc viễn chinh của Mã Viện. Bởi thế không thể không tra cứu
thêm thời điểm cổ Champa tách khỏi đế quốc Hán (năm 100, 137 hay 192?), hoặc—rất
có thể—chưa hề dưới quyền trực trị của nhà Hán, mà chỉ bị nhà Ngô [Wu], Tấn
[Jin], Tống [Liu Song], Tề [Wei], Lương [Liang], Tùy [Sui] liên tục đánh cướp,
chiếm đoạt đất đai?
Về
thực địa, kinh đô Mê Linh vẫn còn là một ẩn số. Ðại Nam Nhất Thống Chí [ÐNNTC] triều Nguyễn cho rằng Mê Linh thuộc
Phong Châu, kinh đô triều đại huyền sử Hồng Bàng. Ðịa danh Phong Châu chỉ xuất
hiện từ đời Tùy-Ðường, nhưng sử Việt chép nó thuộc Văn Lang (khoảng Bạch
Hạc-Sơn Tây), một trong 15 bộ của nhà Hồng Bàng. Chúng ta cũng được biết còn
dấu “thành cổ Mê Linh” ở huyện Phúc Thọ, Sơn Tây, nay là xã Hạ Lôi, huyện Yên
Lãng, Vĩnh Phú. Dấu tích ra sao? Có giống một
vòng tròn xếp bằng đá đánh dấu chỗ họp triều đình để chống giặc Bắc trên đền
Hùng? (15)
Tài liệu Hán còn lên án hai bà Trưng mang
quân quấy nhiễu biên giới, khiến dân tình khổ sở. Lối cáo buộc “xâm phạm biên
giới” —phần nào nhằm biện minh cho cuộc viễn chinh của Mã Viện—là chiêu bài
quen thuộc khi vua quan Hán muốn cướp bóc, thôn tính lân bang, hay tạo áp lực,
dưới thứ chính nghĩa tự nhận là “chinh thảo”. Trước thế kỷ XIX, với vua quan
Hán không hề có chiến tranh, mà chỉ có trừng phạt lân bang không thờ kính thiên
tử như con với cha theo “sự đại chi lễ” [phép thờ nước lớn], hợp với thiên mệnh
[số trời]. (16)
B. CUỘC TÁI XÂM LĂNG CỦA MÃ VIỆN:
Tháng 1-2/42 [tháng 12 Tân Sửu], Lưu Tú
cho lệnh Hợp Phố, Trường Sa chuẩn bị xe thuyền, sửa sang cầu đường, chứa thóc
lương chuẩn bị tái chiếm cổ Việt. Phong Mã Viện làm Phục ba Tướng quân, Lưu Long làm
phó tướng, Ðoàn Chi giữ lâu thuyền, chia hai đạo thủy bộ tiến quân. Gặp
núi làm đường, vượt qua hơn 1,000 lí [dặm TH].
Theo
sử quan Nguyễn, sách Khâm Châu Chí của
Chu Xuân Niên ghi Mã Viện đi từ núi Ô Lôi ra biển lớn, rồi tiến về hướng tây, tới
phủ Hải Ðông của Giao Chỉ. [Ở đây có đền thờ Viện]. Cố Viêm Vũ đời Minh ghi
trong Quận quốc lợi bịnh thư, Mã Viện
đi từ nam Khâm Châu ra biển lớn, giương buồm một ngày thì tới Giao Châu trấn
Triều Dương]. Tuy nhiên, đây chỉ là sự phỏng đoán của
đời sau. Theo truyền thuyết, quân Mã Viện đi qua Quỉ Môn Quan–nơi mười người
qua, chín người không trở lại–đưa đến nghi án địa lý về vị trí của cửa ải phân
chia Nam-Bắc này. (16 bis)
Tháng 4-5/42, Viện
đánh bại Trưng Vương ở Lãng Bạc. Trong chiến dịch này, Viện tâm sự cùng thuộc
hạ rằng, dưới đất khí độc bốc lên ngùn ngụt, ngẩng lên trời thấy diều hâu đang
bay rơi xuống nước, khiến trạnh lòng muốn bắt chước người em họ Thiếu Du sống
thanh thản, an nhàn mà không được.
Cổ sử ghi Lãng Bạc tức Dâm Ðàm, tức Hồ
Tây, Hà Nội. Vài tác giả Pháp, như Henri Maspéro và Claude Madrolle, dựa theo Thủy Kinh Chú (đoạn nói về ba nhánh sông
bắc Hà Nội) và Hậu Hán Thư (địa lí
chí) cho rằng Lãng Bạc thuộc vùng Tiên Du. Một số tác giả Việt nghiêng về lập
luận này. Có tác giả cho rằng Lãng Bạc là vùng Phả Lại, trong khoảng năm huyện
Yên Dũng, Lục Nam, Quế Võ, Gia Lương và Chí Linh, ngày nay. (17) Việc tìm hiểu
về Lãng Bạc vẫn chưa và có thể chẳng bao giờ kết thúc. Lãng Bạc là một tên Hán
Việt, do quan tướng Hán đặt ra, khó thể truy tìm nguồn gốc. Ðất đai, sông biển
đổi dời không ngừng, phù sa sông Hồng liên tục bồi đắp đất mới. Những truyền
thuyết nhân gian về sự tích các thần hoàng hay đền miếu–nguồn gốc hai bộ Lĩnh Nam Chích Quái và Việt Ðiện U Linh tập–khiến vấn đề phức tạp
hơn. Thông tin khả tín duy nhất có thể rút ra là Hai bà Trưng đã thua to ở phía
đông Mê Linh, phải rút về chiến khu Cẩm Khê hay Kim Khê–một địa danh gây nhức đầu
khác.
Ngô Sĩ Liên và sử quan Lê ghi theo Hậu Hán Thư, nhưng ước đoán Cẩm Khê ở
huyện Chân Lộc, Nghệ An. Tự Ðức và sử quan Nguyễn dựa theo Thủy Kinh Chú bác thuyết này, cho rằng Cẩm Khê (Kim Khê) nằm vào địa
phận phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây. (18) Lê Tắc ghi tên Kim Khê theo Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn. Thủy Kinh Chú dẫn Việt Chí, cho rằng Cẩm Khê hay Kim Khê nằm về phía tây nam Mê Linh.
Chi
tiết này giúp một tác giả Việt đi tìm Cấm Khê ở hữu ngạn sông Hồng, và đề nghị
nhìn nhận thung lũng suối Vàng [Kim khê cứu], chân núi Bà (cao 525 mét) ở góc
đông nam dãy núi Tản Viên. Tại
đây, có làng Hạ Lôi, huyện Thạch Thất (Sơn Tây), cách Hà Nội 35 km về phía tây
nam, 28 km hướng tây Hà Ðông, 20 km nam Sơn Tây. Làng này cổ hơn làng Hạ Lôi,
huyện Yên Lãng (Tây Vu cũ). (19)
Tháng 1-2/43, Mã Viện tiến vào Cẩm Khê hay
Kim Khê, đả bại Trưng Vương. Truyền thuyết nói ngày 6 tháng 2 Quí Mão [5/3/43],
hai chị em nhảy xuống sông Hát tự tử. Dân chúng bí mật lập đền thờ trên bờ sông
Hát–tức một nhánh hạ lưu sông Bạch Hạc, ranh giới phủ Quốc Oai, Sơn Tây và huyện
Từ Liêm, Hà Nội (đời Nguyễn)–nay là xã Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Tây. (20)
Dã sử Trung Hoa ghi cả hai bà bị bắt. Theo
Giao Châu Ngoại Vực ký–một trong bốn
tài liệu cơ bản về thời kỳ này, nhưng đã tuyệt bản–Mã Viện tiến đánh vợ chồng
Trưng Trắc và Thi Sách ở Kim Khê cứu, ba năm mới thắng [khiển Mã Viện tương binh thảo Trắc Thi, tẩu nhập Kim khê cứu, tam tuế
nãi đắc]. Nhiều tác giả, kể cả sử quan Nguyễn, ghi theo Nam Việt Chí là bà Trưng giữ được hang
Kim Khê hai năm mới bị bắt [Trưng Trắc tẩu
nhập Kinh Khê huyệt trung, nhị tuế nãi đắc chi]. Lê Tắc chép theo Hậu Hán Thư rằng năm 43, Mã Viện giết chết
Trưng Nhị [Thập cửu niên, Mã Viện trảm
Trưng Nhị yêu tặc (Nhị, tặc muội giả)]. (21)
Tháng 11-12/43, Viện mang 8,000 tinh binh,
hợp cùng hơn một vạn quân Giao Chỉ, 2,000 lâu thuyền truy đuổi tàn quân của Ðô
Dương đến Cửu Chân. Theo Giao Châu ký,
Viện phá đá ngầm, sửa chữa và đắp 500 lí đường bộ. Chiếm huyện Võ Công, Dư
Phát, chia binh vào Võ Biên, rồi kéo tới huyện Cư Phong. Theo Ðào Duy Anh, Cư
Phong sau đổi làm Di Phong tức Diễn Châu, Thanh Hoa (năm 1943). Thủ lĩnh nghĩa
quân Việt ở Cư Phong không hàng, Viện chém vài ngàn (có tin hơn 5,000) thủ cấp.
(22) Sau đó lập nên huyện Tượng Lâm ở phía nam Nhật Nam, tức nước Lâm Ấp sau
này. Rồi sử dụng người Việt theo chính sách cai trị cũ–như Lệnh, cai trị một vạn
hộ trở lên; trưởng, một vạn hộ trở xuống. Thấy huyện Tây Vu (33,000 hộ) quá
đông, Viện chia làm Phong Khê và Vọng Hải, có lẽ cũng để tăng cường sự kiểm soát
và phân tán lực lượng kháng Hán. Tại Phong Khê, Viện xây thành Kiển Giang.
Thành tròn như cái kén nên gọi là “Kiển.” Theo truyền thuyết đây là Loa Thành của
An Dương Vương.
Viện còn thu trống đồng đúc thành ngựa
dâng lên Lưu Tú. Việc tịch thu trống đồng có thể được nhìn dưới khía cạnh tiêu
diệt nền văn hóa cổ truyền–có lẽ theo mẫu hệ–để áp đặt thứ lễ giáo Hoa hạ. Sự việc quân dân hơn 50 thành–hoặc từ 60 tới
65 thành–ngả theo Trưng Vương liên hệ đến chính sách Hán hóa trên. Nhưng nho
gia nặng tinh thần “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô,” và tam cương ngũ thường
chỉ ghi lại “công ơn” Tích Quang, Nhâm Diên, im lặng về chế độ mẫu hệ thời tiền
Hán thuộc, không “cẩn án” hay “phê” trong “quốc sử”. Rất tiếc, không còn
lại tư liệu nào để tìm hiểu thêm vấn đề này. Nhưng nên lưu tâm đến sự kiện hai lãnh tụ kháng Hán đầu tiên là bà Trưng
và Triệu Ẩu hay Triệu Thị Trinh (248). Và cho tới thế kỷ XI, người Việt từng lập
đền thờ hoàng hậu Dương Thị Nga cùng hai chồng là Ðinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn. Hay
truyền thuyết hai ông một bà thần bếp. (23)
Theo Thẩm Hoài Viễn, quân Tây Thục [Xi
Shu] cũng kéo sang, giúp đánh hai bà Trưng [Nhĩ
thì Tây Thục tịnh khiển binh cộng thảo Trắc đảng, tất định quận huyện vi lệnh
trưởng dã]. Tuy dẫn Nam Việt Chí
về Kim Khê, sử quan Nguyễn bỏ chi tiết Tây Thục. ÐVSKTT và ÐVSKTB đều không ghi.
(24)
Năm 44 [Giáp Thìn], Mã Viện về nước. Bảy
quận ở Giao Chỉ [bộ] khi đi cống đều phải do đường biển tới huyện Ðông Dã (Phúc
Châu) mà nạp lễ vật. (25) Phan Huy Chú ghi trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí là còn dấu tích đền thờ Mã Viện ở
Quỉ Môn Quan, Chi Lăng (Lạng Sơn). Nhưng sử quan Nguyễn phủ nhận, vì pho tượng ở
đây giống đàn bà–không giống một lão tướng. (26)
II.
TRỤ ÐỒNG MÃ VIỆN: SỰ THỰC LỊCH SỬ HAY HUYỀN THOẠI?
Cuộc tái xâm lăng cổ Việt năm 42-44 để lại
nhiều huyền thoại. Sách sử Trung Hoa chép võ công của Mã Viện như một cuộc
chinh thảo, tuân theo mệnh trời, dẹp nội loạn do vợ chồng hoặc chị em bà Trưng
khởi xướng–đặt Giao Chỉ trở lại bờ cõi Hán. Trong Trung Quốc thông sử giản biên, Phạm Văn Lan nhận xét rằng xâm lược
là sứ mệnh khai hóa của Hán tộc, và Trưng Vương chỉ vì tư thù Tô Ðịnh giết chồng
mà dấy binh, không chống sự cướp nước của nhà Hán, giành độc lập. Một tác giả
Ðài Loan cũng đưa ra lập luận tương tự. (27) Sử sách Việt, ngược lại, đánh giá
cuộc dấy binh của hai bà Trưng như sự tiếp nối quốc thống từ nhà Hồng Bàng–một
diễn tập cho phong trào đòi độc lập, tự chủ. (28)
Trọng tâm bài viết này vượt trên khuynh hướng
cung văn và đào mộ nói trên, chỉ xét lại truyền thuyết Mã Viện dựng trụ đồng trong
sử văn cũng như thực địa, hy vọng tìm hiểu thêm về biên thùy phía Nam của đế quốc
Hán.
A. KHÔNG GHI TRONG HÁN THƯ:
Hậu Hán Thư hoàn toàn im lặng (trong “Mã Viện truyện”).
Trụ đồng của “Mã Văn Uyên” [Mã Viện] chỉ được nhắc đến từ thế kỷ IV-VI, trong các
dã sử đã tuyệt bản như Quảng Châu Ký, Lâm
Ấp Ký, Giao Châu Ký của Lưu Hân Kỳ, rồi dẫn lại và bình luận trong Thủy Kinh Chú, Thái Bình Ngự Lãm đời Ðường,
v.. v... (29)
Chứng từ của các quan cai trị Hán đương thời–kể
cả Lý Cố, sau Mã Viện 100 năm, tác giả thuyết “dĩ man trị Man,” hay Tiết Tông
(Kính Văn), phục vụ Sĩ Nhiếp vào cuối thế kỷ II, đầu thế kỷ III–không nhắc đến
trụ đồng. Trong những thông tin về cuộc cướp phá Champa của Nguyễn Phu năm 353,
hay Ðàn Hòa Chi năm 436 hoặc 446 đều im lặng, chỉ nói “ấn vua đã ban xuống mà
vàng chưa dâng lên;” cách phá tượng trận do Tông Xác phát minh, hay, công bố kết
quả thí nghiệm đo bóng mặt trời. (30)
Truyền thuyết trụ đồng được nhắc đến lần đầu
trong Tùy thư, đoạn nói về Lưu Phương
đi đánh Champa tháng 1-2/605, vì “nước Lâm Ấp có nhiều của báu, nhưng lâu đời
không đến chầu.” Tháng 3-4/605, sau khi đả bại Sambhuverman Chumnik [Phạm Chi, 595-629,
có mộ bia tên nước Champa], giết hàng vạn người, Phương tiến quân qua trụ đồng
của Mã Viện. 8 ngày sau, tới kinh đô Champa, cướp đoạt 18 [12] bài vị bằng
vàng, ghi công vào bia đá rồi về. Tuy thắng trận nhưng quân lính chết 3, 4 phần
10, và Phương cũng ốm chết dọc đường. (31)
Thoạt nghe, tưởng chừng thông tin khá đầy
đủ. Thực ra, khoảng cách “tám ngày đường” quá mơ hồ. Ðạo quân viễn chinh di
chuyển bằng đường bộ được khoảng 20-30 lí mỗi ngày; như thế trụ đồng ở phía bắc
kinh đô Champa từ 160 tới 240 lí, hay khoảng trên dưới 100 cây số. Quái ác là
không rõ kinh đô Champa ở đâu. Có thuyết nói 8 đời vua Champa cai trị ở
Singapura hay Simhapura [Sư tử thành], tại Trà Kiệu [Quảng Nam] đến năm 750.
Nhưng không một bia đá nào cho phép khẳng định vị trí Sư Tử Thành, ngoài di tích
một thành bị đốt cháy. Trong thập niên 1830, người Bri-tên mua được của tiểu
vương Malay một hòn đảo có tên Singapura [Sư Tử Thành], hay đảo hải tặc, nằm
trên xích đạo, tức Singapore hiện nay. Tuy nhiên, hai vạn quân viễn chinh của
Mã Viện khó có khả năng di chuyển trên 2,000 cây số hay 4,000 lí trong vòng một
năm (43-44). Kinh đô Champa có thể là Quảng Bình, Thừa Thiên, hay Quảng Nam,
nơi còn dấu tích công trình xây cất của dân Chàm. Thành Vijaya [Ðồ Bàn hay Chà
Bàn] ở Bình Ðịnh chỉ trở thành kinh đô Champa từ thế kỷ thứ X.
Dù chẳng biết trụ đồng ở đâu—vì ngay cả
kinh đô Champa cũng chỉ suy đoán vu vơ—văn gia Hán đời sau vẫn sao đi chép lại
sự tích trụ đồng. Khoảng đời Ðường, trụ đồng trở thành ấn chứng hùng hồn của
ranh giới phía nam đế quốc Hán. Vài quan lại thực dân “bắt chước Mã Viện.”
Trong số này có Hà Lý Quang (năm 751) khi đi đánh Nam Chiếu (Vân Nam); và, Mã Tổng,
“khoảng đời” Lý Thuần (Hiến Tông, 806-820), [không rõ cai trị bao lâu ở An Nam],
dựng cột đồng “ở chỗ cũ.” Khoảng đầu thế kỷ thứ IX, Liễu Tông Nguyên nhắc đến
trụ đồng trong bia mộ Trương Chu, đánh giá võ công Chu to lớn hơn cả Viện. (32)
Qua thế kỷ X, sau khi cổ Việt giành được độc
lập, trụ đồng được lịch sử hóa. Tháng 9-10/980, trong chiến thư gửi Lê Hoàn của
Triệu Quang Nghĩa (Tống Thái Tông, 977-997) Vương Vũ Xương chính thức nhắc đến
cột đồng. Nó được viện dẫn như một cái cớ [pretext] về việc tranh giành đất đai
và “khôi phục” lãnh thổ cũ đời Hán—hầu khai thác cái chết đột ngột của cha con
Ðinh Tiên Hoàng, xâm lăng “Ðại Cồ Việt” kiểu “sét đánh không kịp bịt tai” theo
đề nghị của Hầu Nhân Bảo và Lư Ða Tốn:
Ngày xưa về thời Thành Chu [nước ngươi]
đã đem dâng chim trĩ trắng. Ðến thời
Viêm Hán dựng cột đồng. Ðến đời Lý Ðường từng là đất của TQ. Ngươi không
nên nấp vào xó tối [úp mặt vào góc nhà] để ta khó chịu, khiến ta dùng đến kế
chặt xác bằm xương, làm cỏ nước người, lúc ấy hối cũng không kịp.
Cho dù biển của ngươi có ngọc ta cũng ném
xuống suối. Núi của ngươi có vàng ta cũng quẳng vào bụi. Không phải ta tham của
báu của ngươi. Nếu theo thì tha tội, nghịch lại thì ta đánh [hướng hóa ngã kỳ xá, nghịch mạng ngã kỳ
phạt]. (33)
Từ đó, trụ đồng biến thành vũ khí ngoại
giao mỗi khi Trung Hoa muốn xâm lấn hay xách nhiễu. Năm 1272, sau khi lập nên
nhà Nguyên, Qublai Khan [Hốt Tất Liệt] sai người sang hỏi về trụ đồng để xác định
biên giới. Nhưng sau nhiều chuyến khảo sát thực địa, không thấy dấu vết nào—dù
theo truyền thuyết, vì sợ lời đe dọa của Mã Viện, dân Việt không ngừng ném đá,
đất vào chân trụ đồng để nó không bị đổ. Việc này xảy ra sau khi sứ đoàn Hốt
Lăng Hải Nha và Trương Ðình Trăn (Trương Lập Ðạo) đã sang Ðông Kinh cuối năm
1271, đòi Trần Thánh Tông (1258-1278) qua chầu, nhưng vua nêu lý do bị bệnh, từ
chối, và cũng không chịu lạy sứ lúc nhận chiếu—vì theo tục lệ Việt Nam chỉ nhận chiếu ở điện chính, sau đó lui về nhà
riêng. Qublai Khan
đồng ý cho giữ tục lệ, nhưng vẫn đòi phải qua chầu. Vua
Trần cả quyết không qua chầu, chấp nhận hai cuộc đại chiến năm 1278 và
1287-1288, và chuẩn bị trận chiến vệ quốc thứ ba vào thập niên 1290—nhưng cái
chết của Qublai Khan khiến cả hai nước tránh được cảnh binh đao. Dã sử Trung
Hoa cho rằng nhà Trần cuối cùng chấp nhận cống tượng người vàng để đổi hòa
bình, nhưng chính sử Hoa và Việt đều im lặng. Thực tế vua Trần còn cho đục thuyền
giết chết Ô Mã Nhi khi trao trả tù binh, vì Ô Mã Nhi đã tàn phá lăng tẩm ở Long
Hưng (Hải Dương).(34) Tháng 8-9/1345, Thoát Hoan Thiếp Mộc Nhĩ (Nguyên Thuận Ðế,
1333-1368) lại sai Vương Sĩ Hành sang khảo sát vị trí trụ đồng. Trần Dụ Tông (1341-1369) sai Phạm Sư Mạnh
đi biện bạch, nhưng không rõ kết quả. (35)
Qua
đời nhà Minh, năm 1396, thổ tri phủ Tư Minh (Quảng Tây) là Hoàng Quảng Thành
tâu lên Chu Nguyên Chương (Thái Tổ, 1368-1398) rằng Ðồng Ðăng (phía bắc Lạng
Sơn 14 cây số) là đất Ðồng trụ. Khi Mông Cổ đánh Tống, An Nam—quốc hiệu này được chính thức ban cho Lý
Anh Tông năm 1163 hay 1175—cung
cấp quân lương tới trại Vĩnh Bình, cách đồng trụ 100 lí. Cuối đời Nguyên, Giao
Chỉ đánh chiếm trại Vĩnh Bình [có lẽ là đầu nguồn sông Kỳ Cùng], vượt qua Ðồng
Trụ hơn 200 lí, lấn cướp năm [5] huyện Khâu Ôn, Như Ngao, Khánh Viễn, Uyên và
Thoát. Xin sức cho An Nam trả lại đất ấy. Nguyên Chương sai Trần Thành qua bàn
thảo, không xong. Năm 1405 Chu Lệ (Thành Tổ, 1403-1424) khai thác việc Hồ Quí
Ly cướp ngôi nhà Trần, sử dụng bọn thái giám đã cống cho Kim Lăng theo đòi hỏi
năm 1370 để chuẩn bị cho một cuộc chinh phạt. Nhân cơ hội, Quảng
Tây lại đòi trả sáu [6] động đã mất. Tháng 3/1405, “Cát địa sứ” Hoàng Hối Khanh hăng say
cắt đất đổi hòa bình đến độ “trả lại” 59 thôn ở Cổ Lâu. Quí Ly phải đầu độc
các tân thổ quan do nhà Minh bổ nhiệm. (36)
Sau đó, năm 1407, Chu Lệ lại sai Trương Phụ
và Mộc Thạnh đánh chiếm cả Ðại Việt dưới danh nghĩa phù Trần diệt Hồ, bắt gia
đình Quí Ly mang về Kim Lăng. Thay vì đưa con cháu nhà Trần lên ngôi, Trương Phụ
cho bọn Mạc Thúy (dòng giõi Mạc Ðĩnh Chi) làm tờ biểu xin vào lại bản đồ đế quốc
Minh. Năm 1416, Kim Lăng còn tập trung gần 10,000 quan lại bản xứ, phân phát bằng
sắc do triều đình Minh bổ nhiệm, với lời khuyên dụ bọn tả Bố chính sứ Nguyễn
Huân, Tham chính Lương Nhữ Hốt, Ðỗ Duy Trung v.. v.. nên cố gắng trung thành,
đánh dẹp các nhóm kháng Minh, để con cháu ngàn đời hưởng lộc, danh thơm sử xanh
muôn đời. Nhưng đại đa số người Việt khó chấp nhận. Suốt 20 năm Minh xâm chiếm,
khoảng 60 cuộc dấy binh nổi lên khắp nơi. Ðế Ngỗi và Lê Lợi chỉ là hai nhân vật
kiệt hiệt hơn cả. Sau khi Chu Lệ bị giết tại sông Du Mộc, cháu nội là Chiêm Cơ
(Tuyên Tông, 1426-1435), đành gác mộng đặt Ðại Việt vào bản đồ, chấp nhận bãi
binh, thu tiền mãi lộ qua hình thức “cống lễ” tượng người vàng, cùng sản vật địa
phương để đổi hòa bình. (37)
Suốt
triều Lê Lợi (1428-1433), Chiêm Cơ chỉ cho tạm giữ quyền việc nước (“Quyền thự
An Nam Quốc Sự.”) Một trong những lý do là Lê Lợi lập Trần Cảo làm vua, rồi
nhân danh Cảo xin hòa và cầu phong. Dù Cảo chỉ mạo danh họ Trần, nhưng đủ để gỡ
sĩ diện là vẫn trung thành với nguyên tắc “diệt Hồ, phù Trần,” Chiêm Cơ cho Cảo [Cao] làm An Nam Quốc Vương. Ngày
23/3/1428, sai bọn Lý Kỳ tới Ðông Kinh phong vương, nhưng hai tháng trước, Lê
Lợi bắt Cảo [Cao] uống thuốc độc chết. Trong ba năm 1428-1430, Chiêm Cơ cương
quyết đòi tìm con cháu nhà Trần. Lê Lợi dùng vàng bạc sính cống, đồng thời ràng
buộc việc sắc phong với vấn đề trao trả tù binh. Có lẽ vì khó áp lực quá đáng,
sau khi Lê Lợi hoàn trả hơn 86,000 dân quân, mỗi năm biếu xén khoảng 50,000
lạng vàng/bạc, cùng quà tặng cho cả mẹ, vợ, hay Hoàng tử của Chiêm Cơ, ngày
5/12/1431 Chiêm Cơ phong Lê
Lợi làm “Quyền thự An Nam Quốc Sự.” Ngày 19/3/1437, Chu Kỳ Trấn (Anh Tông,
1435-49, 1457-63) mới cho “Lê Lân” [Lê Thái Tông] chức quốc Vương, bình thường
hóa quan hệ, dựa theo điều lệ năm 1370 của Nguyên Chương. (38)
B. KHÔNG CÒN DẤU TÍCH:
1. Hiện nay, không còn dấu tích trụ đồng.
Một sự thực không thể chối cãi là chưa ai
tìm được dấu vết trụ đồng. Lối giải thích có vẻ hợp lý là theo thời gian, trụ đồng
đã bị mai một. Du Ích Kỳ, từng đến Nhật Nam, cho rằng sau khi dựng hai cột đồng,
Mã Viện lưu lại 10 gia đình người Hán, gọi là “Mã Lưu” [người họ Mã bị lưu đầy]
ở bờ phía nam Thọ Linh, đối diện trụ đồng, sau này tăng lên đến 200 hộ. Trụ đồng
đã chìm trong biển, chỉ dựa vào
những người này mới biết vị trí trụ đồng.
(39)
Lâm Ấp Ký, không rõ tác giả và đã tuyệt bản, ghi người
bản địa gọi những người lưu lại ở trụ đồng ranh giới nhà Hán với nước Tây Ðồ là
Mã lưu. Cựu Ðường chí [Cựu Ðường thư]
cũng ghi truyện Mã Lưu. Tân Ðường thư cho rằng người Mã Lưu và núi Trụ đồng ở châu
Bôn Ðà Lăng, phía nam Lâm Ấp hai nghìn [2,000] lí. Sơ học ký, 6, dẫn Ngô
Lục của Trương Bột, ghi trụ đồng và người Mã lưu ở Tây Ðồ, trên một bãi nhỏ dài
30 dặm, của một đảo phía nam Tượng Lâm. Ðời Tùy lên tới 300 hộ. (40)
Thoạt nghe có vẻ khả tín, nhưng xét lại, chẳng ai biết chứng nhân “Mã Lưu” ở đâu, còn
hay mất. Trụ đồng không thấy, nhân chứng không biết ở đâu. Sự khả tín của
thông tin trụ đồng đành phải dựa trên thư tịch hoặc truyền thuyết.
C. KHÔNG RÕ MỤC ÐÍCH HAY VỊ TRÍ:
Những người nghiên cứu về trụ đồng hầu như
nhất trí rằng Mã Viện đã dựng trụ đồng để đánh dấu biên giới phía nam đế quốc
Hán, nhưng chỉ có thế. Ðịnh nghĩa hay cách diễn giải biên giới phía nam, tức vị trí của cái gọi là trụ đồng trái ngược,
thay đổi theo thời điểm và hoàn cảnh, hoặc do sở kiến mỗi cá nhân.
1. Một số người cho rằng Mã Viện dựng trụ đồng
để phân định biên giới đế quốc Hán và cổ Việt .
Những người theo thuyết này đi tìm trụ đồng
ở vùng Lạng Sơn hay Quảng Yên.
a. Chu Khứ Phi, tác giả Lĩnh Ngoại Ðại Ðáp, từng làm thông phán ở
Quế Lâm (Quảng Tây) đời Tống (960-1279), cho rằng trụ đồng ở khu động Cổ Sâm,
Khâm Châu, phía tây châu Khâm khoảng ba [3] lí. (41)
b. Minh
Nhất Thống Chí, theo Nhất Thống Chí
nhà Nguyên, và Thanh Nhất Thống Chí,
theo Chu Khứ Phi, chép trụ đồng Mã Viện ở “Ðèo Phân Mao,” động Cổ Sâm, châu
Khâm. Ghi thêm sau khi dựng trụ đồng, Viện có lời thề: “Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ
diệt.” (42)
c. Nguyễn Thiên Túng, khi chú thích Dư Ðịa Chí (hay An Nam Vũ Cống) của Nguyễn Trãi, nói Kim Tiêu là Trụ Ðồng, Phân Mao
[tại Yên Bang] là “núi Phân Mao.” (43)
d. Lê Quí Ðôn ghi trong Văn [Vân] Ðài Luận Ngữ Mã Viện dựng hai
“kim tiêu” ở Quỉ Môn Quan. Quỉ Môn Quan có lẽ là huyện Bắc Lưu, gần châu Tân An
[Tiên Yên], trấn Quảng Yên. Tại Phân Mao Lĩnh, cách Khâm Châu 300 lí về phiá
nam, có một đồng trụ lớn hơn 2 thước. Có lẽ do Mã Tổng [Ðổng] dựng lên trong
niên hiệu Nguyên Hòa (806-820). (44)
Như thế, nhà Thanh, giống như nhà Minh, có
vẻ tạm thời chấp nhận biên giới hiện hữu giữa hai nước.
2. Một số người khác cho rằng trụ đồng
là biên giới Giao Chỉ bộ và Lâm Ấp.
a. Du Ích Kỳ cả quyết Mã Viện dựng hai cột
đồng phía bắc Lâm Ấp. (45)
b. Tùy
Thư [Sui shu] ghi trụ đồng cách phía bắc kinh đô Lâm Ấp tám [8] ngày đường. Tư
Mã Quang, trong Tư trị Thông giám [đời
Tống, 294 quyển], dẫn lại chi tiết trên. (46)
Vị trí trụ đồng, như thế, nằm vào khoảng
ranh giới Nghệ An và Quảng Bình, tức đèo Ngang trên Hoành Sơn (đạo Hà Tĩnh thời
Tự Ðức)
c. Các tác giả Ðại Nam Nhất Thống Chí và Ðào Duy Anh ghi ở núi Hùng Sơn, Nghệ An. (47)
d. [Thái
Bình] Ngự Lãm 74 dẫn Giao Châu Ký
của Lưu Hân Kỳ: Mã Viện chất đá làm bờ tới ngách sông Tượng Phố, dựng cột kim
tiêu làm biên giới. (48)
Những người diễn giải trụ đồng dựng lên ở
cực nam Giao Chỉ bộ thời Mã Viện—tức quận Nhật Nam—khó thể xác định lãnh thổ Nhật
Nam, hay nước Lâm Ấp. Thế kỷ
I Tây lịch, hơn một thế kỷ sau khi sử sách TH đặt “quận Nhật Nam” [hay Tượng
Lâm] vào bản đồ, nhân ngày Tết, Lưu Trang (Hán Minh đế, 58-75) hỏi Trương
Trọng, một tiểu quan từng ở Nhật Nam, là phải chăng nhà ở Nhật Nam đều mở cửa
về phía Bắc để ngóng ánh mặt trời [Nhật
Nam quận bắc hướng thị nhật da?] (49)
Khó
xác định Lưu Trang có hàm ý gì. Nhưng đọc kỹ chú giải của văn gia đời sau, rõ
ràng vua quan Hán tin mặt trời mọc ở phương Bắc của xứ “hoang phục.” Nhan
Sư Cổ (581-645), làm việc dưới triều Lý Uyên (Ðường Cao Tổ, 618-626) và Lý Thế
Dân (Thái Tông, 627-647) thường chú giải ngũ kinh và Hán Thư của Ban Cố, nói “Nhật Nam là nói về phía nam mặt trời; là bảo
mở cửa phía bắc để hướng về [đón ánh] mặt trời.” Khi nói về việc Ðàn Hòa Chi đánh cướp Lâm Ấp,
năm 436 hoặc 447, Vương Sung chép trong Luận Hành: “Quận Nhật Nam cách Lạc Dương ngót muôn dặm, vậy ở phía nam mặt trời.”
Như dựng cây nêu tại thành Khu Túc, lị sở huyện Tượng Lâm (Nhật Nam), cây nêu 8
thước bóng của nó ở phía Nam là 8 tấc; dựng nêu ngày 5/5 âm lịch [mùa Hè] cũng thấy
bóng ở
phía nam cây nêu! (50)
Khoảng ba thế kỷ sau, đời Lý Long Cơ [Ðường
Huyền Tông, 713-755], khi Dương Tư Húc và Nguyên Sở Khách đi đánh Mai Thúc
Loan, cũng đo bóng mặt trời ngày Hạ Chí ở Giao Châu, thì khám phá ra bóng của
cây nêu ở phía nam ba tấc, ba phân—chẳng khác biệt gì với cuộc đo của Ðàn Hòa Chi. (51)
Ðến đời nhà Minh (1368-1644), Ngũ Sùng Diệu [Âu Ðại Nhâm?] tác giả Lĩnh Nam di thư, còn nhắc lại sự cố “Nhật Nam nằm về phía nam mặt trời”. (52)
3. Trụ đồng được dựng lên ở phía nam Lâm Ấp,
giáp ranh với nước Tây Ðồ.
Vài tác giả dời trụ đồng xa hơn nữa về
phía nam.
a. Lưu Hân Kỳ, tác giả Giao Châu Ký, đã tuyệt bản, là một trong
các tác giả được trích dẫn nhiều nhất. Lịch Ðạo Nguyên có vẻ đồng ý khi dẫn Lưu
Hân Kỳ: Mã Văn Uyên [Mã Viện] lập dấu mốc phía nam đất Hán. (53)
b. Lâm
Ấp Ký, một tựa sách không rõ tác giả và cũng đã tuyệt bản, chép năm 43, Mã
Viện trồng hai trụ đồng ở phía nam Tượng Lâm, làm ranh giới nhà Hán với nước
Tây Ðồ. Lịch Ðạo Nguyên cũng dẫn sách này. (54)
c. Trương Bột, tác giả Ngô Lục, nói trụ đồng ở Tượng Lâm, đánh
dấu biên giới cực nam của nhà Hán. (55)
d. Trong
mục Nam Hải (ch 54) của Lương Thư,
Yao Ssu lien (d. 637) cho Mã Viện từ Nhật Nam đi về hướng nam bốn trăm [400] lí
mới đến Lâm Ấp; đi thêm về hướng nam hai trăm [200] lí nữa rồi dựng trụ đồng ở
biên giới Tượng Lâm và Tây Ðồ. (56)
e. Văn gia Ðường và Tống có vẻ tán thưởng
sự khai sinh thực thể “Tây Ðồ” này. Ðỗ Hữu ghi trụ đồng nằm 2,000 lí phía nam Lâm Ấp. Nhạc
Sử (990-1007) đời Tống, nói đi từ Nhật Nam bốn trăm [400] lí tới Lâm Ấp, đi hơn
hai mươi [20] lí nữa tới nước Tây Ðồ Di. (57) Tân Ðường thư của Âu Dương Tu 1007-1072) và Tống Kỳ (998-1061) cho
rằng Lương Thư viết sai, tự động đưa
trụ đồng xa hơn về phía Nam: Núi Trụ đồng nằm ở châu Bôn Ðà Lăng; từ Nhật Nam
Mã Viện đi bốn trăm [400] lí đến Lâm Ấp; từ Lâm Ấp đi thêm hai nghìn [2,000] lí
nữa về hướng Nam mới dựng trụ đồng. Cựu
Ðường Chí thêm: Ðường thủy, từ phủ An Nam tới Lâm Ấp 3,000 lí. Từ quận Giao
Chỉ tới trụ đồng là 5,000 lí. (58)
Như thế trụ đồng nằm ở khoảng núi Ðá Bia,
phía Bắc Ðèo Cả (Phú Yên).
g. Từ phía nam Giao Chỉ theo đường thủy
3,000 lí tới Lâm Ấp. Từ quận Giao Chỉ tới cột đồng 5,000 lí. (59)
4. Lại có tác giả nói Nhật Nam bao gồm Phù Nam.
Vậy trụ đồng Mã Viện có thể ở gần Cà Mau
hiện nay.
Cố Tổ Vũ, tác giả
Ðộc sử phương dư kỷ yếu (đời Thanh),
ghi: Phù Nam là một hòn đảo lớn nằm về phía tây Nam Hải, thuộc quận Nhật Nam, bắc
cách Nhật Nam 7,000 lí, nằm về hướng tây nam của Lâm Ấp khoảng 3,000 lí; rộng
3,000 lí. (60) Theo Việt Nam Tạp Yếu:
Trụ đồng của Mã Viện ở phía nam Quảng Hòa. Nước Tây Ðồ Di là nước Mãn Thích
Gia, sau đổi là Ca la phú sa; rồi bị Chiêm Thành diệt. Trải dài tới Vĩnh Long.
(61)
Ðiều đáng ghi nhận là trong nỗ lực xác định
vị trí của trụ đồng, văn gia TH không ngớt mở rộng biên giới Hoa Hạ khiến vị
trí trụ đồng Mã Viện ngày một Nam tiến.
D. SỐ TRỤ ÐỒNG THAY ÐỔI:
Số trụ đồng do Mã Viện dựng lên trong các
truyền thuyết cũng thay đổi, từ một tới năm “kim tiêu.”
1. Văn gia đời Tùy nói có một
hay hai trụ đồng [Tùy thư
chép Lâm Ấp ở phía nam trụ đồng].
Ðỗ Hữu ghi trong Thông Ðiển phía nam Lâm Ấp 2,000 lí có hai trụ đồng sát biên giới
Tây Ðồ Di (núi Ðồng Trụ chu vi 10 lí).
2. Tống Bạch suy đoán có ba
[3] cột đồng ở biên giới Tây Ðồ Di và Tượng Lâm, 200 lí phía nam Lâm Ấp.
Từ Giao Châu tới trụ đồng là 5,000 lí. (62)
3. Hồ Tam Tỉnh đời Tống đưa lên năm
(5) trụ đồng hình như cái lọng ở Ðại Phố, phía nam Lãng Ðà (Lâm Ấp).
(63)
Việc tự do hiệu đính hay sửa chữa trên có
thể do từ đời Tống, Nguyên, Minh, hay Thanh kiến thức địa lý về phương nam đã
khá hơn. Nhưng không thể không nghĩ đến thói quen ghi vào sử sách những biên giới
hoang tưởng, chờ ngày “thôn tính” [cướp đoạt]–hay “khôi phục,” nếu muốn. Khi sử
dụng sử liệu TH, nếu không cân nhắc kỹ lưỡng yếu tố này, rất dễ bị lạc đường.
Và, khó thể tách “trụ đồng Mã Viện” khỏi tham vọng bành trướng—như một cái cớ để
đòi trả lại những đất đai hoang tưởng đã mất. Miệng kẻ “sang” [mạnh] có gang có
thép, dù cái lưỡi uốn lượn trăm chiều. Nhưng “Quốc sử” đời Hậu Lê và nhà Nguyễn
vẫn sao chép huyền thoại trụ đồng, theo kiểu “dĩ nghi, truyền nghi,” sa vào lưới nhện tham vọng bành trướng của
Hán tộc.( 64)
Từ đầu thế kỷ
XX, những nghiên cứu của Tây phương, đặc biệt là học giả Pháp—áp dụng những phương pháp làm việc khoa học
hơn, khảo sát khá kỹ các di vật còn sót trên mặt đất—để tái dựng lại lịch sử nghệ thuật [arts
history] của Champa và Kambojas. Ðược chính phủ Bảo hộ Pháp trợ cấp, những người
như Louis Finot, Georges Coedès, Partmentier, v.. v. .. đã làm việc
trên 250 di chỉ khảo cổ—đặc
biệt là các tháp chứa linh vật như Linga,
tượng Phật, những tấm bia có khắc chữ Sanskrit hay một loại chữ Chàm biến thái
từ Sanskrit, cùng những “hoa văn” điêu khắc (như voi, sư tử đều nhảy múa). Nhiều
cổ vật đã bị thời gian, thiên tai, chiến tranh, và những hành vi mọi rợ văn hóa—như tàn phá dấu tích nước bại trận hay trộm cắp
(Hán, Việt cũng như Tây phương) —khiến
chứng tích sự hiện hữu của một quốc gia hưng vượng trong nhiều thế kỷ ngày một
hiếm hoi. Dù còn thiếu sót, những công trình trên giúp đặt xuống những viên đá
lót đường đầu tiên cho việc tìm hiểu về dân Chàm nói riêng, và lịch sử Việt Nam
nói chung. Dựa trên những mẩu thông tin trái ngược nhau và mức khả tín
vô cùng giới hạn trên, người phỏng đoán trụ đồng nằm ở “Phân Mao Lĩnh,” Cổ Sâm,
Khâm Châu (theo Lĩnh Ngoại Ðại Ðáp [của
Chu Khứ Phi] đời Tống, dẫn trong ANCL,
và Nhất Thống Chí nhà Minh, nhà
Thanh). Người suy đoán ở đèo Ngang, tức Hoành Sơn, ranh giới tự nhiên của hai tỉnh
Hà Tĩnh và Quảng Bình ngày nay (theo Lịch Ðạo Nguyên, trong Thủy Kinh Chú; Lưu Hân Kỳ, trong Giao Châu Ký). Có tác giả nghĩ nó ở vùng
Huế. (Aurousseau, Claeys) Lại có người cho Mã Viện xuống tới tận núi Ðá Bia
(Ðèo Cả), Phú Yên (theo Tân Ðường Thư).
Tự điển Từ Hải cũng theo thuyết này,
có lẽ do mục tiêu chính trị hơn sự thực sử học. (65) Và khó thể không đồng ý với
Maspéro rằng đây chỉ là một huyền thoại. (66)
Kết Từ:
Cho tới đầu thế kỷ XXI vẫn chưa thể hình
dung ra hình dáng, kích thước, vị trí hay số lượng trụ đồng. Không hề có vết
tích trụ đồng trên thực địa. Trong khi đó sách sử đương thời im lặng. Cũng
không ai có thể khẳng định trụ đồng là biên giới Hán-Cổ Việt, biên giới Cổ Việt-Cổ
Chàm (Lâm Ấp)–hay phía Nam cổ Chàm. Những nỗ lực truy tìm trụ đồng cho thấy
tính chất đàn hồi của biên giới và cuộc Nam tiến không ngừng—từ Cổ Sâm (Quảng
Yên cũ, sau là Khâm Châu) xuống tận Núi Ðá Bia (Phú Yên), dù mãi tới khoảng năm
1,000 vua Champa mới dời đô vào Vijaya (Chà Bàn, Bình Ðịnh).
Huyền thoại Mã Viện mà văn gia Hán hoang
tưởng và hiệu đính gần hai nghìn năm qua—có khả năng thuyết phục mạnh những người
chỉ có vốn liếng kiến thức sơ đẳng hay lịch sử nhân dân, lịch sử nhiều người viết
như Mao Nhuận Chi—là một trong những bằng chứng về thủ thuật sử dụng sách, sử
làm vũ khí tuyên truyền, huyền thoại hóa sự thống trị cùng tham vọng thôn tính
lân bang của Trung Nam Hải.
Lưu động tính của các vị trí dựng trụ đồng
không chỉ giúp bài bác huyền thoại trụ đồng, nhưng cũng cho thấy lô-gích của nó
nằm trong một âm mưu truyền kiếp “quay mặt về hướng nam” của Hán tộc. Việc Hà
Lý Quang (năm 751), Trương Chu (809), hay Mã Tổng bắt chước “Mã Viện” dựng cột
đồng “ở chỗ cũ” không chỉ để lưu danh. Chúng ta cũng từng ôn lại những sứ đoàn
Trung Hoa được gửi sang “An Nam di” để tìm dấu tích trụ đồng. Mỗi lần vấn đề trụ
đồng được nêu lên là có hiểm họa binh đao—từ Hốt Tất Liệt tới Chu Lệ.
Nhưng không thể không tự hỏi tại sao văn
gia Hán đã hăng say tham dự cuộc ngụy tạo lịch sử này? Từ nhiều thế kỷ, văn gia
TH thường rất tự hào về tính chất trung thực của thư tịch cổ thời TH. Một số học
giả Tây Phương cũng đánh giá cao các sử liệu trên. Tuy nhiên, sự khả tín của
thư tịch TH—ít nhất về cổ Việt và Champa—có nhiều dấu hỏi lớn.
Thứ nhất, là sử quan, những người chép sử
không dám phạm thượng. Ða số đều muốn dùng văn tài mình để tô hồng hay cung văn
chế độ cho một mục đích nào đó. Thứ hai, sử quan và Nho gia định hướng Khổng
Giáo không dám vượt qua những khuôn khổ như Thiên mệnh, “thánh giáo” do Khổng
Khâu và các đệ tử “truyền lại.” Thứ ba là hiện tượng mọi rợ văn hóa: Ðược làm vua, thua làm giặc. Tiêu hủy di
sản văn hóa các nước nhỏ hay các tộc dân bị cướp nước, ngụy tạo sử kiện, địa
danh, nhân danh để biện minh cho tham vọng “thôn tính thiên hạ,” “đặt vào vòng
lễ giáo,” v.. v.. Dư luận dân chúng thì được hâm nóng bằng hệ thống tuyên truyền
tham vọng thực dân, và sự ưu việt Hán tộc [Han
supremacy].
Việt Nam là bằng chứng hùng hồn nhất về
hành động mọi rợ văn hóa Hán tộc—bên cạnh chủ trương “tằm ăn dâu” hay “vết dầu
loang”: Lấn đất, di dân, rồi công khai xâm lăng, giết lãnh đạo, đồng hóa một
thiểu số thổ dân làm giai tầng trung gian. Nếu chưa thành công, lại khởi đầu trở
lại chu trình “thông hiếu” hay “cống lễ” [tributory
networks] định kỳ. Ban mũ áo, đặt tên, dạy học chữ để đồng hóa. Chờ một cơ
hội khác. Thời gian thường nằm về phía kẻ mạnh. Dân tộc Việt thường trực bị đe
dọa bởi hiểm họa xâm lăng, đồng hóa của những người cầm quyền Bắc Kinh, bất kể
màu sắc ý thức hệ, từ chuyên chính quân chủ, phong kiến tới quân phiệt “Tam
Dân,” rồi dân chủ tập trung “định hướng xã hội chủ nghĩa.”
Lễ Nghĩa hay những nguyên tắc cao thượng,
lý tưởng được nêu ra trong tứ thư, ngũ kinh hay sách vở của bách gia và tư tưởng
Mao hay lý luận Ðặng Tiểu Bình chỉ là những trò chơi của trí tuệ—được trưng dẫn
khi cần thiết. Doanh [Lã] Chính chôn nho sinh. Hạng Vũ hỏa thiêu Hàm Dương. Chu
Lệ tịch thu hết sách vở Ðại Việt mang về Kim Lăng, thay bằng sách sử nhà Tống.
320,000 Hồng quân đột ngột tràn qua biên giới Hoa-Việt mờ sáng ngày 17/2/1979,
san thành bình địa hàng chục thị xã và thị trấn, hung hãn mở cuộc tàn sát thường
dân để dạy cho tập đoàn Lê Duẩn một bài học. Chủ yếu luôn là thứ luật kẻ mạnh
kiểu trung cổ và “nguyên thủy”: luật pháp và chính nghĩa nằm trong tay những
kẻ mạnh nhất, và đủ nhẫn tâm giết người, cướp đoạt đất đai, tài sản người khác.
Từ hạ bán thế kỷ XX—tạm thời nghỉ ngơi để
tiêu hóa cho xong những vùng lãnh thổ khổng lồ của Manchuria, Tibet, Mongol—cơ
quan tuyên truyền Bắc Kinh đưa ra thuyết “tổ hợp” [to incorporate] những đất đai và dân chúng mới chiếm đoạt để đồng
hóa các nạn nhân. Những việc làm biểu kiến như xóa tên Yue Fei (Nhạc Phi,
1103-42) khỏi danh sách những anh hùng dân tộc [minzu yingxiong] trong sách giáo khoa lịch sử bậc tiểu và trung học
(Beijing Youth Daily, Dec 2002) —cùng
những khẩu hiệu như đoàn kết dân tộc [minzu
tuanjie], hay đa dân tộc quốc gia [duominzu
guojia], ngũ tộc cộng hòa [wuzu
gonghe], đại Trung Hoa dân tộc [Da
Zhonghua minzu] —chỉ là những lớp bọc đường cho liều thuốc độc tiêu diệt bản
sắc những sắc dân đã và đang bị thôn tính, đồng hóa. (67)
Song song với chiêu bài đạo đức giả trên—sẽ
bị vứt bỏ khi cần thiết—là những chiêu bài quen thuộc khác khi muốn cướp bóc
hay thôn tính lân bang, thứ chính nghĩa tự nhận “chinh thảo” [trừng phạt hay “dạy
cho một bài học”]. Với vua quan Hán, như Lưu An đã nhắc nhở Lưu Triệt: không hề
có chiến tranh, mà chỉ có trừng phạt những dân tộc không thờ kính thiên tử như
con với cha theo lẽ trời [thiên mệnh] “sự đại” [thờ nước lớn]. Bài Chiếu đánh Ðại
Việt của Triệu Quang Nghĩa (976-997) vào tháng 9-10/980 [tháng 8 Canh Thìn] là
một trong những văn kiện tiêu biểu:
Thanh giáo và oai linh
của nước nhà vang dội khắp nơi [Quốc gia thanh giáo sở đàm, oai linh hàm
kị.]
Gần đây, đất Diên Chỉ
chưa [chịu] nhập vào bản đồ, tự đứng một phương, gần Ngũ Lĩnh. [Cố nãi Diên
Chỉ chi cảnh, vị qui dư địa chi đồ, thẩn tư nhất phương, cận tiếp Ngũ Lĩnh]
Cuối đời Ðường loạn lạc,
đất đai bị chia xẻ, chúng tiếm xưng làm một nước [bang], tách xa phong giáo,
khiến phong hóa như của kẻ mù, đứa điếc [Ðường mạt li loạn, khu nội phẫu
phân, toại vi tiếm ngụy chi bang, tư thành lung cổ chi tục.]
Từ khi bình định Phiên
Ngung, ban cho lịch sách mà tuân hành, tuy nhận làm phiên thuộc, mà vẫn lo việc
binh bị, có ý tự cường [Cập Phiên Ngung đề định, chính sóc thủy ban, tuy khế
thủ dĩ xưng phiên, phả thiện binh nhi tự cố.]
Phép thờ nước lớn, lẽ nào
như thế? [Sự đại chi lễ, đương như thị hồ?]
Ðể cứu dân, chẳng đặng
đừng ta phải đưa quân chinh phạt để thay đổi xứ mọi rợ; nay sai bọn Tôn Toàn
Hưng qua đánh [Ðiếu dân chi hành, cái bất đắc dĩ, nghi cung hành ư thiên
thảo, dụng phi biến ư man trâu, nghị dĩ Tôn Toàn Hưng đẳng xuất như tấn
thảo.”]. (68)
Hạ bán thế kỷ XVIII, năm 1788-1789, Hoằng
Lịch [Qian Long] định phò Lê đánh Tây Sơn để khôi phục một số quận huyện. Qua
thế kỷ XIX, năm 1882-1885, Từ Hi Thái hậu cũng muốn “phò Nguyễn” chống di địch
Pháp, để chiếm đoạt vùng phía bắc sông Hồng; nhưng cuối cùng bị thảm bại, phải
ký thêm hiệp ước cắt đất và bồi thường chiến phí cho Pháp, khiến Ðường Ðình
Canh chịu chết trong ngục.
Hiện tình thế giới—sau bao thập niên bị cường
quốc Tây phương và Nhật lăng nhục—khiến Bắc Kinh bớt kiêu ngạo, chấp nhận một
thứ quan hệ “vừa là đồng chí vừa là anh em” trong “thế giới thứ ba.” Nhưng tham
vọng cầm đầu khối những nước nghèo, bành trướng đất đai hầu chiếm đoạt tài
nguyên thô, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa nhái và rẻ tiền, nhiễm độc, đồng
thời chiếm đất di dân—thành lập những đạo quân thứ năm khắp thế giới—hầu tránh
nạn nhân mãn, và “thôn tính thiên hạ” vẫn nguyên vẹn nếu không phải ngày thêm
thôi thúc.
Hạ bán thế kỷ XX, Trung Cộng gây chiến với
Burma [Myanmar], Mongolia và India về biên giới. Bắc Kinh còn đòi Liên Sô Nga
phải trả lại hơn 1.5 triệu cây số vuông lãnh thổ mà Nga Hoàng chiếm đoạt trong
thế kỷ XIX. Mao Nhuận Chi cho lệnh Vệ Binh Ðỏ trình diễn một màn “thanh giáo
Mao” bằng cách xếp hàng dài theo biên giới, rồi tụt quần chổng mông về phía
Nga. Cơ quan tuyên truyền Nga đối phó bằng cách trương hình Mao chủ tịch vĩ đại
mỗi khi có màn trình diễn “lễ giáo chổng mông” trong kinh điển tư tưởng Mao. (69)
Mao Nhuận Chi, người tự xưng là lãnh tụ CS
vĩ đại của “Thế Giới thứ ba,” năm 1936 than thở với Edgar Snow về việc bị thực
dân Tây phương chiếm đoạt chư hầu, trong đó có Ðông Dương; và từ năm 1949, “cống
hiến vô tư” cho Hồ Chí Minh cùng Ðảng CSVN. Nếu tin được Luo Guibo [La Quí Ba],
mùa Hè năm 1950, khi tiếp đại diện phái đoàn cố vấn quân sự Trung Cộng trên đường
qua Cao Bằng, Nhuận Chi căn dặn thuộc hạ đừng nên có tinh thần tự tôn nước lớn
[big-state chauvinism]. Rồi, nhấn mạnh
Hồ và Ðảng CSVN đã mời họ qua giúp, không giống như Ma Yuan [Mã Viện] ngày nào.
Mao chỉ không tiết lộ rõ âm mưu của mình: dùng xương máu người Việt để bảo vệ cửa
ngõ chiến lược Ðông Nam, trước sự vây hãm của Liên bang Mỹ và Ðồng Minh. Năm
1979, những tác giả lừng danh Việt Nam như Trường Chinh, Nguyễn Ngọc Minh, v..
v .. sau nhiều năm nung nấu, đã một lần được tự do thoá mạ tư tưởng Mao Trạch
Ðông phản động, thâm độc cùng cách sử dụng viện trợ theo kiểu “cà rốt và cây gậy,”
trong chủ trương bành trướng, bá quyền nước lớn, “tọa sơn quan hổ đấu,” chống Mỹ
đến “người Việt Nam cuối cùng.” (70)
Từ năm 1947, chính phủ Tưởng Giới Thạch rồi
chế độ Mao Nhuận Chi đòi sửa lại các hoà ước bất bình đẳng ký với Pháp năm 1885
và 1887 bằng những hòa ước bất bình đẳng Hoa-Việt khác. Sách giáo khoa sử địa vẽ
bản đồ lãnh hải TH chạy xa về phía biển Nam. Ngày 4/9/1958, Bắc Kinh công bố một
bản đồ có lãnh hải phía Nam gồm những gạch đứt đoạn. Ngày 19-20/1/1974, để trở
lại với thế giới văn minh, Nhuận Chi và Ân Lai cho lệnh xâm chiếm Hoàng Sa bằng
võ lực, trước sự quay mặt làm ngơ của Cố vấn ANQG Henry A. Kissinger. (71) Ngày
17/2/1979, Deng Xiao-ping [Ðặng Tiểu Bình] mượn chiêu bài biên giới để dạy Lê Duẩn
và Ðảng CSVN “một bài học” luật kẻ mạnh, sử dụng hơn 320,000 Quân Giải Phóng
[QGP] cùng tăng pháo tàn phá sáu [6] tỉnh biên giới suốt 30 ngày Xuân Kỷ Mùi
[1979]. Rồi chiếm cứ một số cao điểm chiến lược ở biên giới. (72) Sau đó, bắt
Hà Nôi cắt đất, cắt biển năm 1999 và 2000, hiệu lực từ năm 2004. Qua năm 2009,
lại áp lực ký hiệp ước “tay đôi” về Hoàng Sa [Paracels] và Trường Sa [Spratlys].
Ngày 7/5/2009, Bắc Kinh nộp cho LHQ một bản đồ lãnh hải, tự nhận chủ quyền 80%
biển Ðông, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, và lãnh hải chia làm
9 điểm đứt quãng, sát với VN, Malaysia, Brunei, và Philippines. Ngày 8/5/2009,
Việt Nam gửi công hàm số 86/HC-2009 lên Tổng thư ký LHQ bác bỏ nó “không có giá
trị vì không có cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn.” (73)
Mới đây, tờ Tuổi Trẻ ở Sài Gòn đi tin Ðại sứ Nguyễn Văn Thơ họp báo ở Bắc Kinh
ngày 8/1/2010, tuyên bố quan hệ 16 chữ vàng—láng
giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, tiến tới tương lai—nhưng
cũng xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Thông tấn xã và báo chí Trung Cộng chỉ nói đến phần hữu nghị, hoàn toàn im lặng
về lãnh hải. Báo Tuổi Trẻ in thêm
vào, hay báo chí Trung Cộng cắt bỏ?
Một trong những nguyên nhân của chính sách
bành trướng-xâm lược của Trung Nam Hải là sự tăng trưởng dân số. Ðảng CSTH hay
bất cứ giới cầm quyền nào cũng phải lo tìm chỗ cư trú và sản xuất lương thực
cho khối lượng 1.3 tỉ đầu người có sổ hộ khẩu này. Bởi thế, Bộ Chính Trị Ðảng
CSTH từng ra nghị quyết coi Ðông Nam Á là “vùng trời chiến lược sinh tồn” của
Hán tộc. Di dân, cướp đoạt đất đai, trộm cướp tài nguyên thiên nhiên ở rừng núi
và thềm lục địa, là điều đã, đang và sẽ xảy ra. Lãnh đạo Trung Hoa thường tuyên
bố chiến tranh là điều khó tránh, dù có thể trì hoãn được. Nhưng với ý thức hệ
tận dụng “bạo lực cách mạng” kiểu Maoist, cộng với tinh thần thôn tính, làm cỏ
thiên hạ truyền thống, Bắc Kinh sẽ duy trì hòa bình được bao lâu?
Không thể không rùng mình ớn lạnh. Vì thật
khó để thuyết phục những đệ tử tự nhận của thứ học thuyết “cách mạng là tấn
công, không tấn công là thất bại” tự kềm chế tham vọng bành trướng xã hội chủ
nghĩa kiểu Mao-it [Maoist hegemonism].
Nếu lịch sử có thể giúp rút ra một bài học hữu ích, Cộng đồng yêu chuộng hòa
bình thế giới—và đặc biệt hơn 1.3 tỉ dân Trung Hoa—nên có thái độ và hành động
cần thiết để ngăn cản viễn ảnh Trung Hoa sẽ là nguồn gốc của Thế Chiến thứ Ba, cuộc chiến mang sức hủy diệt cả nhân loại và
địa cầu.
“Justice for all”–Công lý cho mọi và mỗi người. Ðó là
tâm niệm và hoài bão của những người mong muốn một thế giới hòa bình, tiến bộ,
đáng sống hơn của nhân loại. Nhưng ngày ấy còn xa vời. Thế hệ chúng ta đang còn
bị đe dọa, khủng bố bằng những tên tội phạm chiến tranh trong các dinh thự.
Trong số đó, có những kẻ đang sống huy hoàng tại Trung Nam Hải như Hồ Cẩm Ðào
[Hu Jintao] và Ôn Gia Bảo [Wen Jabao]—kẻ từng vu cáo một nhà sư đạo hạnh như Ðạt
Lai Lạt Ma của Tibet là “khủng bố.” Ai sẽ đưa chúng ra trước những tòa án quốc
tế hình sự, cũng như lương tâm nhân loại?
Houston, 1/2-18/1/2011
Chính Ðạo
©2011, Copyright by Van Hoa Publishing Co.
All Rights Reserved.
Những chữ viết tắt:
ANCL : An Nam Chí Lược, Lê Tắc, bản dịch Trần Kính Hòa et al. (Huế: Ðại Học Huế, 1961)
CM, TB: Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương
Mục [CM], Tiền Biên [TB], bản dịch Trương Bửu Lâm et al., (Sài Gòn:
1965); bản dịch viện Sử học (Hà Nội: NXB Giáo Dục, 1998);
ÐNNTC:
Ðại Nam Nhất Thống Chí, bản
dịch Phạm Trọng Ðiềm và Ðào Duy Anh, 5 tập (Huế: Thuận Hóa, 1997),
ÐVSKTB: Ðại Việt Sử Ký Tiền Biên, bản dịch
Dương Thị The et al. (Hà Nội: 1997), Ngoại Kỷ;
ÐVSKTT: Ngô Sĩ Liên et al., Ðại Việt Sử Ký
Toàn Thư, Ngoại Kỷ, q. III, bản dịch Nhượng Tống (Hà Nội: Tân
Việt, [1944?]) [sẽ dẫn Nhượng Tống (1944)]; bản dịch Cao Huy Giu (Hà Nội:
1967), [sẽ dẫn Giu (1967)]; bản dịch Ngô Ðức Thọ et al (Hà Nội: 2009) [sẽ dẫn
Thọ (2009)];
LTHCLC: Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Phan
Huy Chú, bản dịch Viện Sử học, 3 tập (Hà Nội: 1992)
NCLS: Tập san Nghiên Cứu Lịch Sử (Hà Nội)
TKCS: Thủy Kinh Chú Sớ, Lịch
Ðạo Nguyên, et al., bản dịch Nguyễn Bá Mão (Hà Nội: 2004).
VÐLN: Vân [Văn] Ðài Luận Ngữ, Lê
Quí Ðôn, bản dịch Phạm Vũ và Lê Hiền (Sài Gòn: 1973?).
Chú:
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục [CM],
Tiền Biên [TB], q.II:9b-10a, [II 9b-15b] bản dịch Trương Bửu Lâm et al., (Sài
Gòn: 1965, 1967), II:176-77 [176-201]; bản dịch Viện sử học (Hà Nội: 1998),
I:114. Xem thêm Ngô Sĩ Liên et al., Ðại
Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngoại Kỷ, [ÐVSK, NKTT], q. III:1b-4a, bản dịch Nhượng
Tống (Hà Nội: Tân Việt, [1944?]) tr. 129-30 [sẽ dẫn Nhượng Tống (1944)]; bản dịch
Cao Huy Giu et al. (Hà Nội: 1967), I:90-2 [ghi là năm Kỷ Hợi (13/2/39-1/2/40)
[sẽ dẫn Giu (1967)]; bản dịch Ngô Ðức Thọ et al (Hà Nội: 2009), I:183-86 [sẽ dẫn
Thọ (2009)]; Ðại Việt Sử Ký Tiền Biên
[ÐVSKTB], bản dịch Dương Thị The et al. (Hà Nội: 1997), Ngoại Kỷ, III:4, tr. 72-3;
2. Lê Tắc, An Nam Chí Lược [ANCL], q. 4,
“Tiền triều chinh thảo,” bản dịch Trần Kính Hòa et al. (Huế: Ðại Học Huế,
1961), tr. 92-3 [phần chữ Việt]. Sẽ dẫn: ANCL. Các sử quan Nguyễn viết “công hãm thành ấp, biên quận khổ chi;” [chú
1. supra] chỉ có Lê Tắc dùng chữ “công
duyên quận ấp.”
Có người cho rằng “công duyên” phải hiểu là “công
trị” vì chữ “trị” [trị sở] chép sai thành duyên [bên lề, lân cận, ven] —tức đánh phá trị sở châu quận, hay “tấn công trừng trị” [?].
A. Công: bộ Phộc, Thiều
Chửu 255: đánh, vây đánh [một thành]; Việt-Hán tự điển; Huỳnh Minh Xuân
[ HMX], tr. 122-24. Từ điển Thiều Chửu và Huỳnh Minh Xuân chỉ có công
hãm [bộ phụ; TC 737], hay thành hãm; không có chữ công duyên,
hay “Công Trị.” KĐVSTGCM chép “công hãm châu trị,” tức công
hãm chỗ đặt trị sở cai trị của châu; CMTB, II:9b-10a, Sài Gòn: 1967, II:176-79.
Hậu Hán thư chép là “công phá.” [Xem chú 3, infra].
B. “Duyên” [bộ thủy=nước] là lân
cận, ven, như duyên biên, duyên giang, duyên [hải], HMX, tr. 221; Thiều Chửu, 338. [e.g., duyên
thủy nhi hạ = ven nước mà xuống]
C. “Công duyên:” Khó hiểu, và có thể
chép sai. Có thể suy đoán rằng đây là thói quen đời Tống và Nguyên, gọi Giao
Chỉ thành Diên Chỉ, hay Duyên Hải. Kết luận có thể rút ra là chữ “duyên”—hầu
như vô nghĩa hay viết sai ở đây—có thể hiểu là biên giới [biên] hay [duyên hải].
Nếu chữ duyên chép sai từ “trị,”
[bộ Thủy, còn có âm là “trì”: sửa] [Thiều Chửu 337] chữ trị có thể hiểu là “trị
sở.” [Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư,
III:2a, Thọ (2009), I:183-84 dịch theo ý này: đánh hãm trị sở ở châu]. Dịch chữ “nguyên” tức “trị” viết sai, với
nghĩa thứ hai, “trừng phạt” có vẻ lủng củng, nếu không phải sai ý câu văn. Chúng tôi bỏ chữ “duyên” không dịch. Nên
ghi thêm là khi dịch các bản viết ngoại ngữ, đừng tự động thêm hay sửa chữa
chữ để hiểu theo ý mình.
3. Li
Dao-yuan et al., Shui-ching chu [Thủy
Kinh Chú, TKC], q. 37, Diệp Du Hà, tờ 62; Idem., Thủy Kinh Chú Sớ [TKCS] bản dịch Nguyễn
Bá Mão (Hà Nội: 2004), ch 37, “Diệp Du Hà,” tr. 424-25; CM, TB II:9, (Sài Gòn:
1967), II:179; (Hà Nội: 1998), I:114; ÐVSK, NKTT, III:2a, Nhượng Tống
(1944):129; Giu (1967), I:91; Thọ (2009), I:183; ÐVSKTB, Ngoại Kỷ, III:4,
1997:72.
4.
CM,
TB II:9, (Hà Nội: 1998), I:114chú 1; Nguyễn Linh, “Bàn về nước Thục của Thục
Phán.” NCLS, 124 (7/1969).
tr. 48col 1; Henri Maspéro, Etudes d’histoire d’Annam. “Le Royaume de Van Lang;” Bulletin
de l’Ecole francaise d’Extrême-Orient [BEFEO], XVIII, 3:4. Sẽ dẫn Maspéro,
“Royaume.”
5. ÐVSK, NKTT, III:3a, Nhượng Tống
(1944):131; Giu (1967), I:92; Thọ (2009), I:184; ÐVSKTB, Ngoại Kỷ, III:4b-5b,
1997:73-4.
6. Lê Quí Ðôn, Vân [Văn] Ðài Luận Ngữ [VÐLN], bản dịch Phạm Vũ và Lê Hiền (Sài
Gòn: 1973?), III: Khu Vũ Loại, số 85, tr. 168-69.
7.
ANCL,
q. 4, 1961:92 [chữ Việt];
ÐVSKTB, Ngoại Kỷ, III:4b-5b, 1997:73-4; Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí [LTHCLC], bản dịch Viện Sử học, 3
tập (Hà Nội: NXB KHXH, 1992), q. 6, “Nhân Vật Chí,” 1992, 1:167.
8. TKCS, ch 37, “Diệp Du Hà,” Mão,
2004:425; Nguyễn Linh, NCLS, 124 (7/1969). tr. 48n1 [33-5]; TKCS, Mão, 2004:500, chú VI.
9. CMTB, III:10a, (Sài Gòn: 1970), tr.
178-79; ÐVSKTB, Ngoại Kỷ, III:4b-5a, 1997:73.
10. Tiền Hán
Thư, q. 7, 4b; dẫn trong Maspéro, “Etudes d’histoire d’Annam. III. La
commanderie de Siang;” BEFEO, XVI (1916-1917), p. 52 [49-55]. Sẽ dẫn Maspéro,
“Siang.” Từ Hải cũng chép Tượng Quận lập nên năm 214 TTL, bỏ năm 76 TTL; TKCS,
Mão, 2004:366n1.
11. CM, TB III:5b-6a; (Sài Gòn 1970),
III:22-5; (Hà Nội:1998), I:139; ÐVSKTB, Bản Kỷ [BK], IV:4b-5a, 1997:86-7; ÐVSK,
NKTT, IV:2b, Thọ (2009), I:198;
12. “[1b]
Thương Ngô vương Triệu Quang dữ Việt đồng tính, văn Hán binh chí [2a] hàng. Việt
Quế Lâm giám Cư Ông dụ cáo Âu Lạc giai hàng. . . . Thị thì Việt trung nhị sứ tế ngưu bách đầu,
tửu thiên chung, trí Giao Chỉ, Cửu Chân nhị quận [quân] hộ tịch nghinh hàng;
Bác Ðức nhân bái [bài] nhị sứ vi Giao Chỉ, Cửu Chân thái thú, trị dân như cố. Ư
thị toại thuộc Hán;” CMTB, II:1b-2a, 2b-4b, (Sài Gòn, 1967),
II:146-47; (Hà Nội: 1998), I:106, 106n1. Sử Ký, q. 113, tờ 1b-2a; Maspéro, “Siang,” XVI,
1:53-4 [49-55]; Idem., “Van Lang;” XVIII, 3:2. TKCS, ch. 36, “Uất Thủy,” Mão, 2004:
342-43, 346-349chú 1.
13. Tiền
Hán Thư, q. 7, 4b; Ðỗ Hữu (735-812), Thông
điển (Shanghai: 1935), q. 184, tờ 4b; Maspéro, “Siang,” 1916, 1:51, 52.
14.
ANCL,
q. 4, 1961:92; CM, TB, II:2a-4b, (Sài Gòn, 1967), II:146-57; (Hà Nội: 1998),
I:106-7; ÐVSKTB, 1997:67-9. Nhóm phiên dịch CM
viện sử học (Hà Nội: 1998) chú thích rằng có lẽ sử quan Nguyễn dùng một bản TKC
khác nên có dị biệt: (1) Dẫn Giao Chỉ
Thành KýGiao Châu Ngoại Vực
Ký; và (2) chép “cập nhị quân dân hộ
bạ hàng Lộ tướng quân,” thay vì “cập nhị quân dân hộ khẩu bạ nghệ Lộ tướng quân.” (Hà Nội: 1998), I:107n1. Theo
Hậu Hán Thư, dân số Giao Chỉ, 92,440
hộ; 746,237 nhân khẩu; Cửu Chân, 35,784/166,013; Nhật Nam, 15,460/60,485; Ai
Lao: 51,890/553,711 [năm 69]; Nguyễn Linh, “Thục Phán.” NCLS, 124 (7/1969), tr.
46-7, 48col 1 [33-5]. thay vì
15.
ÐNNTC, q. XXI, “Sơn Tây,” 1997, 4:188, 195-96, 220 [sông Hát], 224-25, 228,
235.
16. ÐVSK, NKTT, III:2b, Nhượng Tống
(1944), tr. 130; Giu (1967), I:91; Thọ (2009), I:184; ÐVSKTB, Ngoại Kỷ, III:5b,
1997:74. CM, TB, II:10b, (Sài Gòn:1967), II:180-81; Vũ Ngự Chiêu, “Ðất đai Việt
Nam mất vào tay Trung Hoa;” Hợp Lưu
(Fountain Valley, CA), số 105 (5-6/2009), tr. 5-32; Việt Nam Thời Báo (San Jose), số 5103, (Thứ Bảy-Chủ Nhật,
11-12/7/2009), & 5104, (Thứ Ba, 14/7/2009); Xem thêm, LTHCLC, q. 49, “Bang Giao Chí: Việc Biên Cương;”
1992, 3:275-95; Truong Buu Lam, “Intervention versus Tribute in Sino-Vietnam
Relations, 1788-1790;” trong John King Fairbank (ed), The Chinese World Order: Traditional Chinese Foreign Relations
(Cambridge, Mass: Harvard Univ Press, 1968), tr.165-79.
16 bis. CMTB, IV: 21b, 23a: (Sài Gòn:
1970), III:218-19 [Theo Ðường thư, năm
723 [hoặc 713-714], khi qua đánh Mai Thúc Loan, Tư Húc và Sở Khách tiến binh
theo đường cũ của Mã Viện [Mã Viện cố đạo],
224-25.
Tân Ðường Thư, Bản Kỷ [của Âu Dương Tu [1007-1072] và Tống
Kỳ (998-1061): Mai Thúc Loan; Cựu Ðường
thư [của Lưu Hú, 887-946]: “Dương Tư Húc truyện;” Thông Giám: Mai Thúc Yên;
ÐVSK, NKTT, V:4b, Thọ (2009), I:226, chú 1; CMTB, IV:21b: Quang Sở Khách; Hắc đế
có 40 vạn quân. (Sài Gòn: 1970),
III:218-19; (Hà Nội: 1998), I:187-89 [CM ngờ chi tiết này: Mai Hắc Ðế có thể chỉ
giữ một châu, quan tướng Ðường phóng đại lên để lập công; 22a-23b, III:220-23]
17. Hậu
Hán Thư, “Mã Viện truyện;” TKCS, Ch 37, “Diệp Du Hà;” Mão, 2004:429;
ÐVSKTB, Ngoại kỷ, III: 5-6, 7b, 1997: 74-5, 75n6; Từ Hải, tr. 1500. [ÐVSK,
NKTT, III:2b, Thọ (2009), I:184; Nhượng Tống (1944), tr. 130; Giu (1967), I:92;
CM, TB II:11; (Sài Gòn 1967), II:183-85; (Hà Nội: 1998), I:115; Maspéro,
“L’Expédition de Ma Yuan;” BEFEO, XVIII (1918), tr. 17; Claude Madrolle, Le
Tonkin ancien, BEFEO, XXXVII, tr. 272-73, 274-75; Ðinh Văn Nhật, “Vùng Lãng Bạc
về thời Hai Bà Trưng;” NCLS, số 155 (3-4/1974), tr. 22, 34 [15-35] [Tiên Du sơn, vùng trũng
Bắc Ninh-Bắc Giang], & số 156 (5-6/1974), tr. 54 [44-59]; Idem., “Huyện Mê Linh của Hai Bà
Trưng.” NCLS, số 172 (1-2/1977), tr. 24-43; Khổng Ðức Thiêm, “Từ sự tham gia
của nhân dân Vũ Ninh vào cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng;” NCLS (Hà Nội), số
161 (3-4/1975), tr. 56-7 [54-9, 71-]
18. ÐVSK, NKTT, III:2b, Thọ (2009), I:184;
Nhượng Tống (1944), tr. 130; Giu (1967), I: ÐVSKTB, Ngoại Kỷ, III:5-6, 1997:74;
CM, TB, II:11; [Sài Gòn 1967], II:183-85; (Hà Nội: 1998), I:115; ÐNNTC, q. XXI,
“Sơn Tây,” 1997, 4:195-96, 224-25, 235.
19. ANCL, q. 4, 1961:93; ÐVSK, NKTT,
III:2b, Nhượng Tống (1944), tr. 130,132n7; Giu (1967), I:92; Thọ (2009), I:184;
ÐVSKTB, Ngoại Kỷ, III:5-6, 1997:74; CM, TB, II:11; (Sài Gòn 1967), II:183-85;
1998, I:115; ÐNNTC, q. XXI, “Sơn Tây,” 1997, 4:195-96, 224-25, 235; TKCS, ch
37, “Diệp Du Hà,” Mão, 2004: 424-25; Ðinh Văn Nhật, “ Ðất Cấm Khê, căn cứ cuối
cùng của Hai Bà Trưng trong cuộc khởi nghĩa Mê-Linh năm 40-43;” NCLS, số 148
(1-2/1973), tr. 26-34, 41,
& số 149 (3-4/1973), tr. 31-40 [Tân Xương ở hữu ngạn sông Hồng].
20. ÐVSK, NKTT, III:3, Thọ (2009), I:185;
Nhượng Tống (1944), tr. 133; 1967, I:93; ÐVSKTB, Ngoại Kỷ, III:5-6, 1997:74;
CM, TB II:12, 14; [Sài Gòn 1967], II:186-88), (Hà Nội: 1998), I:115-16, 118. ÐNNTC, q. XXI, “Sơn Tây,” 1997,
4:190, 220 [Sông Hát,], 4:235.
21. ANCL, q. 4, 1961:92; TKCS, ch 37, “Diệp Du Hà,” Mão, 2004:434-35;
CMTB, II:11b, (Sài Gòn 1967), II:184-85.
Thủy Kinh Chú, ch. 37, “Diệp Du Hà;” TKCS, ch. 37, “Diệp Du Hà;” Mão,
2004:425.
22. ANCL q. 4, 1961:92-3; ÐVSK, NKTT,
III:3b, Thọ (2009), I:185; Nhượng Tống (1944), tr. 133; Giu (1967), I:93,
319n8;; ÐVSKTB, Ngoại Kỷ, III:8b, 1997:76; CM, TB II:12a-12b; (Sài Gòn, 1967),
II:186-89; (Hà Nội: 1998), I:116; Ðào Duy Anh, “Les colonnnes de Bronze de Mã
Viện;” Bulletin des Amis de Vieux Hué
[BAVH], XXX, No. 4 (10-11/1943), p. 353 [349-60], [sẽ dẫn: ÐDA, 1943]; TKCS, ch
37, “Diệp Du Hà,” Mão, 2004:418, 420-21.
23. ÐVSKTB, Bản Kỷ, I:21, 31a; 1997:167-68,
177; ÐNNTC, q. XIX, “Bắc Ninh,” 1997, 4:91, 106; q. XXI, “Sơn Tây,” 1997,
4:224-5; CM, TB II:14-15; (Sài Gòn 1965), II:197-201; ÐVSK, NKTT, III:3b, Nhượng
Tống (1944), tr. 130, 134; Giu (1967), I:93, 319n10; Thọ (2009), I:185; TKC,
ch. 36, “Uất Thủy;” TKCS, ch. 36, “Uất Thủy,” & ch 37, “Diệp Du Hà,” Mão,
2004:362, 426-27, 428-29.
24.
TKC, ch. 37, Diệp Du Hà; TKCS, ch 37, “Diệp Du Hà,” Mão, 2004:424-25; CMTB,
II:11b, (Sài Gòn: 1967), II:184-85. Nguyễn Linh nghĩ rằng Tây Thục là “Ai Lao
Di,” phía tây bắc cổ Việt; “Thục Phán.” NCLS, 124 (7/1969), tr. 46-7, 48col 1
[33-5].
25. ANCL, q.4, 1961:93; TKCS, Ch 37, “Diệp
Du Hà;” Mão, 2004:475.
26. ANCL, q. 4, 1961:92-3 [phần chữ Việt]; Hậu Hán
thư, “Mã Viện truyện” và “Lưu Long truyện;” LTHCLC, q. IV,
Dư Ðịa Chí, 1992, 1:155; ÐNNTC, q. XIX,
“Nghệ An,” 1997, 4:394.
27. Tạ Ngọc Liễn, “Chủ nghĩa bành trướng đại
dân tộc của đế quốc Trung Hoa phong kiến, và Chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc
của bọn cầm quyền phản động Bắc Kinh ngày nay;” Phê phán chủ nghĩa bành trướng và bá quyền nước lớn của giới cầm quyền
phản động Bắc Kinh (Hà Nội: 1979), tr. 170-71 [160-80]; Nghiên Cứu Lịch Sử [NCLS], số 2 [221]
(1985), tr. 87; LTHCLC, q. VI, “Nhân Vật Chí,” 1992, I:187; ÐVSKTB, Ngoại Kỷ,
III:4b; 1997:73.
28. ÐVSK, NKTT, q. III, Nhượng Tống
(1944)]; Giu (1967), I:90-2 [ghi là năm Kỷ Hợi (13/2/39-1/2/40); CM, TB, II:9,
(Sài Gòn: 1967), II:179; (Hà Nội: 1998), I:144; ÐVSKTB, Ngoại Kỷ, III:4,
1997:72-3; LTHCLC, q. VI, “Nhân Vật Chí,” 1992, 1:167-68.
29. TKC, ch. 36, “Uất Thủy,” tờ 36a; [dẫn
Lưu Hân Kỳ, Giao Châu Ký]; Idem., TKCS, ch. 36, Mão, 2004:394-95; tóm lược tiểu
sử Mã Viện, tự điển Từ Hải; dẫn trong CMTB, (Sài Gòn: 1967), II:181chú 1; Ðào
Duy Anh, 1943: 350 [349-60].
30. ÐVSK, NKTT, III:4b-6a & IV:2b-3b,
IV:8; Nhượng Tống (1944), tr. 136-37;
Giu (1967), I:104-5, 113-14; Thọ (2009), I:186-88, 197-99, 204-5; ÐVSKTB, NK, IV:14a, IV:5-6a, 18, 1997:93, 96-7; CM, TB III:5-8a, 20a-21b,
27-29a (Sài Gòn: 1970), III:20-33, 108-17; (Hà Nội: 1998), I:139-42, 160-62;
ANCL, q. 5, 1961:112-14, 148; q. 4,
1961:94; TKCS, ch 36, Uất Thủy; Mão,
2004:365-66, 384-85;
31. Sui
shu [Tùy Thư], q. 53, “Lưu Phương truyện,” q. 82, “Nam Man truyện”]; dẫn trong
ANCL, q. 4, 1961:95-6 [12 bài vị]; ÐVSK, NKTT, V:22a, Nhượng Tống (1944), tr.
240; Giu (1967), I:127-28; Thọ (2009), I:220-21; ÐVSKTB, 1997:114-15; CM, TB,
IV:14-16; (Sài Gòn 1970), III:190-97; (Hà Nội: 1998), I:180-82;
32.
ANCL,
q. IX, 1961:164, 165-66; ÐVSK, NKTT,
V:21b, Nhượng Tống (1944), tr. 271-72n6 [Mã Ðổng]; Giu (1967), I:93; II:39; Thọ
(2009), I:222-23; CM, TB, IV: 28-29, 30-31; (Sài Gòn: 1970), III: 246-49,
254-57; (Hà Nội: 1998), I:191-92 [Mã Tổng], 194, 195; LTHCLC, q. I, “Dư Ðịa
Chí,” 1992, I:29; ÐVSKTB, Ngoại Kỷ, VI:10-1; Bản Kỷ, V:46b, 1997:124, 353.
33.
ANCL, q. 5, 1961:115-16 [trích Tống Sử]; ÐVSK, BKTT, I:10a-12a, Giu (1967),
I:162-63; Thọ (2009), I:263-65; ÐVSKTB, Bản Kỷ, I:15, 1997:162-63; LTHCLC,
“Bang Giao Chí,” 1992, 3:276; CM, CB I:16, (Hà Nội: 1998), I:250-51. Xem thêm
lời phê của Triệu Quang Nghĩa trên tờ trình của Ðặng Tích về việc bãi binh, sau
khi quân Tống thua trận. Hầu Nhân Bảo bị giết.
34. ÐVSK, NKTT, III:3b, V:33a, 60a, Giu
(1967), I:93, II:39, 68; Thọ (2009), I:185; Lâu (2009),
II:47, 83; ÐVSKTB, Bản kỷ, V:46a, 1997:352 [ghi tháng 11 Tân Mùi]; CM,
TB, II:12a-14a; VII:14, VIII:17; (Sài Gòn: 1967), II:186-87, 188-95; (Hà Nội:
1998), I:500, 544. LTHCLC, Bang Giao Chí, q. 49, III:280. Xem “Hành lục” của Trương
Lập Ðạo; ANCL, q. 3, 1961:71-5 & q. 5, “Ðại Nguyên Danh Thần Vãng Phục Thơ
Văn;” 1961:102-3 [101-3]; Vũ Ngự Chiêu, “Nhìn Lại Mùa Xuân Khói Lửa 1789;” Hợp
Lưu 112 (1-2/2011), tr. 5-35; website [hopluu.net], tháng 2/2010.
35. ÐVSK, BKTT, VII:13a, Lâu (2009), II:162;
Giu (1967), II:136; ÐVSKTB, Bản kỷ, VII:15b, 1997:442; LTHCLC, q. 49,
1992, 3:281; CM, CB, IX:46; (Hà Nội: 1998), I:619)]
36.
ÐVSK, BKTT, VIII:47b-48a, Giu (1967), II:219; Hoàng Văn Lâu (2009), II:262; CM,
CB XII:7; (Hà Nội:1998), I:720-21; ÐVSKTB, 1997:518. Phan
Huy Chú nhận định: “Cái tội bán đất của Hồ Quí Ly dù giết cũng chưa hết tội;”
LTHCLC, q. 49, 1992, 3:281. Xem, Vũ Ngự Chiêu, “Nhìn Lại Hoàng Sa;” Hợp Lưu,
Xuân Canh Dần, số 108 (1-2/2010), tr. 10-11 [5-27].
37. ÐVSK,
BKTT, VIII:50a-54a, 43-61; Lâu (2009), II:265-70, 349-70; Giu (1967), LTHCLC,
q. 46-49, “Bang Giao Chí,” 1992, III:222, 224. ÐVSKTB, BK X:32,
51a-56a, 1967:548, 562-64.
38.
Thông sử, 1978:69, 71-2, 79, 91-2;
LTHCLC, q. 46, 1992, III:192-95 [hai tờ biểu này được tu chỉnh lại theo Quân Trung Tứ Mệnh Tập, in trong Ức Trai Di Tập]; 192n1, 195-97; ÐVSK,
BKTT, X:44b-47a, 52a, 57a, XI:35a, 73a, Lâu (2009), 2:351-53, 360, 366, 381-82, 421; ÐVSKTB, BK, X: 51a-52a, 1997:563; CMCB,
XIV:22-24, 26; XIV:1, XV:12, 29; (Hà
Nội: 1998), I:823-25, 827, 831, 834-35, 843, 862-63 [việc tìm con gái vua đã bị bắt làm đầy tớ không có kết quả. Nhà
Minh nói cô gái đã chết vì bệnh đậu mùa].
39. TKCS, ch 36, “Uất Thủy,” Mão,
2004:394-95 [Mã Lưu].
40. TKC, q. 36, 36a; Ðào Duy Anh, 1943:350
[349-360]; TKCS, ch 36, “Uất Thủy,” Mão, 2004:395; [Ngô Lục của Trương Bột],
41. Dẫn trong ANCL; Cương Mục TB I:11b,
II:13b; (Sài Gòn, 1967), II:50-1 [Chu Khứ Phi],. Maspéro cho rằng Tượng Quận đời Tần nằm trong lãnh thổ Hoa
Nam hiện nay.
42. Dẫn trong CM, TB II:12b-14a; (Sài Gòn,
1967), II:188-95 [192-193:“Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt.”]; (Hà Nội: 1998),
I:116-18. TKCS, Bk 36, “Uất Thủy,” p. 36a; Mão, 2004:394-95]; LTHCLC, “Dư Ðịa
Chí,” q. I, 1992, I:29.
43. ÐNNTC, q. XVIII, “Quảng Yên,”1997,
4:8.
44. Lê Quí Ðôn, VÐLN, q. III, “Khu Vũ Loại,”
số 62, 1973:145-46; số 52, tr. 135-6. ÐNNTC, q. XXIV, “Lạng Sơn,” 1997, 4:387;
LTHCLC, “Dư Ðịa Chí,” q. I,1992, I:29; “Bang Giao Chí,” q. 49, III:291-92;
Ðại Nam Thực Lục Chính Biên [ÐNTLCB],
I, 3:157-58; Bửu Cầm, tr. 108. Có thuyết cho rằng Quỉ Môn Quan ở xã
Quang Lang [Chi Lăng], phía nam Châu Ôn, Lạng Sơn. Theo Lê Quí Ðôn, [Khi tiến
đánh hai Bà Trưng, Viện dùng đường biển và đi men theo biển].
45. TKC, q. 36, tr. 36a; ÐDA, 1943:350;
TKCS, ch 36, “Uất Thủy,” Mão, 2004:394-95. Xem thêm chú 37. (Dẫn ANCL, q. 10;
TKCS, ch 36, Mão, 2004:386-87 [đáng nhớ nhất là cây cau].
46. Sui
shu [Tùy Thư], q. 82, “Nam Man truyện”; dẫn trong ANCL, q. 4, 1961:95-6;
ÐVSK, NKTT, V, Giu (1967), I:127-28; ÐVSKTB, NK, VI:1-2b; 1997:114-15; CM, TB,
IV:14-16; (Sài Gòn: 1970), III:190-97; (Hà Nội: 1998), I:180-82 [dẫn Tùy Thư,
q. 53, “Lưu Phương truyện”]; ÐNCBLT, q. 33, 1993:608; Claeys, 1934:27; Cadière,
1931: 93.
47.
ÐNNTC, q.V, “Nghệ An”, 1997, 2:158; Ðào Duy Anh, 1943:358 [349-60] .
48.
Giao Châu Ký của Lưu Hân Kỳ; TKCS, ch
36, “Uất Thủy, 2004:363-64, 394-95 [Tuong Pho].
49.
TKCS,
ch 36, “Uất Thủy,” Mão,
2004:363-64; ÐVSK, NKTT, III, 1967, I:99-100, 320n22; CM, TB II: 6a, 27, (Sài
Gòn, 1967), II: 162-63, 246-49; (Hà Nội: 1998), I:110 [Nhan Sư Cổ], 129-130 [Trương Trọng].
Theo Sử quan Tây Sơn, chuyện này xảy ra vào đời Tư Mã Thiệu (Tấn Minh Ðế,
323-325); ÐVSKTB, NK, III:15b-16a;1997:82 [Phạm
Thái (355-428), cha Phạm Việp (398-446), đời Lưu Tống chép truyện Trương Trọng
và Lưu Trang, đo bóng mặt trời ở Khu Túc, trong Cổ Kim Thiện Ngôn; TKCS, ch 36,
“Uất Thủy, Mão, 2004:363] Theo Thông Ðiển, tháng 5 ở Lâm Ấp, bóng cây nêu ở
phía nam là 9 tấc 1 phân. TKCS, ch 36, “Uất Thủy, Mão, 2004:363] ANCL, q. 15
50. Lâm Ấp truyện; dẫn trong Tề thư; TKCS,
ch 36, Mão, 2004:363, 373.; CM, TB, II:5b-6a, (Sài Gòn, 1967), II:160-63; (Ha
Noi:1998), I:110.
51. Lê
Quí Ðôn, VÐLN, q. 2, “Hình tượng loại: số 15 [1-38], số 16 [1-38], 1973:79-81,
81-5 [Ðàn Hòa Chi và Tông Xác, tháng 5 dựng cây nêu, mặt trời ở phía bắc; năm
724, đời Ðường, ở Giao Châu cũng vậy. [Dương Tư Húc và Quang [Nguyên] Sở Khách]
đánh Mai Thúc Loan, bóng mặt trời ngày Hạ Chí ở Giao Châu, phía nam cây nêu ba
tấc, ba phân]; ÐVSK, NKTT, V:4b & IV:11a, Nhượng Tống (1944), tr. 154,
200-2 [Ðàn Hòa Chi], 244-45 [Dương Tư Húc và Nguyên Sở Khách]; Thọ (2009),
I:208 [năm 436, Ðàn Hòa Chi], 226 [năm 722, Tân Ðường Thư, Mai Thúc Loan; Cựu
Ðường thư, “Dương Tư Húc truyện,” Mai Lập Thành, Quang Sở Khách; Tư Trị Thông
Giám, Mai Thúc Yên]; Giu (1967), I:113-14 [Ðàn Hòa Chi], 130 [Dương Tư Húc và
đô hộ Nguyên [Quang] Sở Khách] đánh Mai Thúc Loan; đo bóng mặt trời]; CM, TB,
III:27a-29a, IV:21b-23b, (Sài Gòn: 1970), III:108-117 [năm 446, Ðàn Hòa Chi, đạo
Ni Kiền, theo Tống Thư [29a], 218-27 [năm 711, Dương Tư Húc và Quang Sở Khách
đánh Mai Thúc Loan; đo bóng mặt trời];
52. ÐVSK,
TTNK, III, Giu (1967), I:99-100, 320n22); CM, TB II:27; (Sài Gòn, 1967),
II:246-49; [Theo Trương Bửu Lâm, Từ Hải chép rằng tác giả Lĩnh Nam di thư là
Ngũ Sùng Diệu, không phải Âu Ðại Nhâm. (Ibid., II:47,chú 1)]; TKC,
Bk 36, p. 36a; ÐDA, 1943:350; TKCS, ch 36, “Uất Thủy,” Mão, 2004:394-95.
53. Ibid.
54. TKC, Bk 36, “Uất Thủy,” p. 36a; ÐDA,
1943:351; TKCS, ch 36, “Uất Thủy,” Mão, 2004:395.
55. TKCS, ch 36, “Uất Thủy,” Mão, 2004:395;
ÐDA, 1943:350;
56. Dẫn trong Ðại Thanh Nhất Thống Chí; CM, TB II:12b-14a; (Sài Gòn, 1967),
II:188-95; (Hà Nội: 1998), I:116-18.
57. TKCS, ch 36, “Uất Thủy,” Mão,
2004:395. Chỗ này có thể là núi Ðá Bia [Rocher Stèlé] (Ðèo Cả), phía Nam Ðà Rằng
hay Ðà Lang (Tuy Hòa) [50 km], Phú Yên; ÐDA, 1943:352; L. Sogny, “Noutelletes;”
BAVH, XXIV, 1937, 71-2 [báo cáo về núi Ðá Bia ở đèo Varella (Ðèo Cả)], 73-7.
53. Ibid.
54. TKC, Bk 36, “Uất Thủy,” p. 36a; ÐDA,
1943:351; TKCS, ch 36, “Uất Thủy,” Mão, 2004:395.
55. TKCS, ch 36, “Uất Thủy,” Mão, 2004:395;
ÐDA, 1943:350;
56. Dẫn trong Ðại Thanh Nhất Thống Chí; CM, TB II:12b-14a; (Sài Gòn, 1967),
II:188-95; (Hà Nội: 1998), I:116-18.
57. TKCS, ch 36, “Uất Thủy,” Mão,
2004:395. Chỗ này có thể là núi Ðá Bia [Rocher Stèlé] (Ðèo Cả), phía Nam Ðà Rằng
hay Ðà Lang (Tuy Hòa) [50 km], Phú Yên; ÐDA, 1943:352; L. Sogny, “Noutelletes;”
BAVH, XXIV, 1937, 71-2 [báo cáo về núi Ðá Bia ở đèo Varella (Ðèo Cả)], 73-7.
58. TKCS, ch 36, “Uất Thủy,” Mão,
2004:395.
58. TKCS, ch 36, “Uất Thủy,” Mão,
2004:395.
59. Ibid.
60. CM, TB
I:6-7; (Sài Gòn: 1965), II:31-3.
61. TKCS, ch 36, “Uất Thủy,” Mão,
2004:395-96.
62. Lê Quí Ðôn, VÐLN, III, “Khu Vũ Loại,”
số 52, tr. 135-36; CMTB, II:13a, (Sài Gòn: 1967), II:190-91;
63. Tân Ðường Thư; CMTB, II:13a, (Sài Gòn:
1967), II:190-91; Lê Quí Ðôn, VÐLN, III, “Khu Vũ Loại,” số 52, 1973: 135;
LTHCLC, q. I, “Dư Ðịa Chí,” 1992,
I;29.
64. Ibid.; LTHCLC, q. I, “Dư Ðịa Chí,” 1992, I;29.
65. ÐVSK,
NKTT, III:3b, Thọ (2009), I:185; Giu (1967), I:93; CM, TB II:12a-12b; (Sài Gòn,
1967), II:186-89; (Hà Nội: 1998), I:116; ÐNNTC, q.V: “Nghệ An” [núi Hùng Sơn],
XVIII, “Quảng Yên,”1997, 2:158; 4:8 [Nguyễn Thiên Túng]).
66. Jean Yves
Claeys, “Introduction à l’étude de l’Annam et Champa.” BAVH, XXI, 1-2 (Jan-Juin
1934), p. 27 [1-144] [ở Nham Biều, bờ Nam sông Hương, Huế]; H. Le
Breton, “Le Vieux An Tịnh;” (suite) BAVH, XXII, No. 2 (4-6/1935), pp. 195, 204
[191-235].; Cadière, 1931: 93.
67. Maspéro, “L’expédition de Ma Vien;”
BEFEO, XVIII, 3 (1918), pp. 25-6.
68. Xem, Nimrod Baranovitch, “Others No
More: The Changing Representation of Non-Han Peoples in Chinese History
Textbooks, 1951-2003;” Journal of Asian
Studies, Vol 69, No. 1 (Feb 2010), pp. 85-112.
69. ANCL,
q. II, 1961:64.
70. Qiang
Zhai, China and the Vietnam Wars,
1950-1975 [Trung Hoa và những cuộc chiến Việt Nam, 1950-1975] (Chapel Hill:
North Carolina Press, 2000). Xem thêm, La Chine et le Monde [Trung Hoa và Thế Giới] (Beijing: Beijing
Information, 1982), No. 1, tr. 51-4, 63 [49-78], 115-19 [102-41];
71. CHXHCNVN,
Bộ Ngoại Giao, Sự thật về quan hệ Việt
Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua (Hà Nội: Sự Thật, 4/10/1979), tr. 24; [Sách
Trắng]; S. Yurkov, Asia in Peking’s Plans (Moscow:
Politizdat Publishers, 1981) [X. G. Iu-Rơ-Côp, Châu Á trong các kế hoạch của Bắc Kinh (Hà Nội: NXB Sự Thật,
1984)], trong Tủ sách “Chủ Nghĩa Mao–Một Nguy Cơ Với Loài Người];
72. Vũ Ngự Chiêu, “Nhìn Lại Hoàng Sa;” Hợp Lưu Magazine (Fountain Valley, CA),
No. 108 (tháng 1-2/2010),
tr. 5-25; LTHCLC, q. 49, “Bang Giao Chí: Việc Biên Cương;” 1992, 3:275-95.
73.
Trường Chinh, “Nhân Dân Việt Nam kiên quyết đánh bại mọi mưu mô xâm lược của
chủ nghĩa bành trướng và chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc;” “Xã luận” Tạp chí Cộng Sản [TCCS], 3/1982, trích
đăng trong Chống chủ nghĩa bành trướng bá
quyền Trung Quốc (Hà Nội: 1982), tr. 33-55; UBKHXHVN [nhiều tác giả], Phê phán chủ nghĩa bành trướng và bá quyền
nước lớn của giới cầm quyền phản động Bắc Kinh (Hà Nội: KHXH, 1979);
Xiaoming Zhang [Trương Tiểu Minh], “China's 1979 War with Vietnam: A
Reassessment;” The China Quarterly, Volume
184, Dec 2005, pp 851-74.