
NAM DAO
Phùng Cung,
thơ và người
Kính viếng Phùng Cung
và Phùng Hà Phủ
Năm 14 tuổi, tôi
đọc Con Ngựa Già của Chúa Trịnh. Đọc
lén v́ bản thảo nằm trong một cái tủ cha tôi khóa
kỹ, thỉnh thoảng mở ra rồi thận trọng
nhét vào một cái hồ sơ trên có đề chữ mật.
Chữ này đầy mănh lực, hấp dẫn đến
đỗi quên ăn quên chơi ngay ở
tuổi tôi đang lớn. Tôi đánh được ch́a, mở
tủ lấy hồ sơ, leo lên trần
nhà. Ghé vào những khoảng sáng hắt qua kèo cột, tôi say
sưa đọc, mồ hôi nhễ nhại trong cái hừng
hực nóng của mùa hè Sài G̣n đổ lửa. Năm sau, cụ Hoàng văn Chí in Trăm Hoa đua
nở trên đất Bắc. Tôi lại đọc lại,
lần này đàng hoàng đọc. Nhưng
tôi chưa thật hiểu thế nào là ẩn dụ, tuy bụng
vẫn quặn thắt đau cái nỗi đau của con
ngựa chiến đứt ruột chạy ṿng cuối,
cái ṿng khốn nạn của thứ định mệnh
oái oăm.
*
Lần
đầu tôi đọc Phùng Cung khi ông ta vừa 30 tuổi. Về Cải Cách Ruộng
Đất, ông Vơ Nguyên Giáp đă công khai nhận sai xót, và
như một h́nh thức kỷ luật, ông Trường
Chinh thôi chức Tổng Bí Thư Đảng Lao Động.
Vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm đă yên ắng. Tuy thế,
người ta vẫn xử lư nội bộ, định tội,
bắt đi "thực tế", bỏ tù và vô hiệu
hóa những người dám đ̣i lại quyền lănh đạo
văn chương-nghệ thuật về tay chính những
kẻ làm văn chương-nghệ thuật mà không chịu
uốn cong ng̣i bút phục vụ những tiêu chí thuần
chính trị, những khẩu hiệu vô hồn, những ư
đồ được khôn khéo che đậy bằng thứ
ngôn từ uốn éo như rắn hổ mang chui ra từ những
chiếc lồng khi nghe tiếng kèn phù thủy. Năm sau, t́nh h́nh miền
Tại
sao?
*
Hơn
bốn mươi năm sau khi đọc Con Ngựa Già của
Chúa Trịnh, đầu tôi vẫn cứ một câu tại
sao?
Phùng Cung xưa phụ trách nhà in, không "chính trị"
như Nguyễn Hữu Đang, uy tín như Phan Khôi, và cũng
không là chiến tướng như những Trần Dần,
Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán…Trừ Đang và Thụy
An, tất cả đều đi thực tế, một
cách cải tạo không phải là gay gắt nhất. Sau thực tế th́ về Hà Nôị nhưng bị
treo bút, cô lập. Khổ nhất là bị cô lập,
không ai dám "dây với hủi", kể cả những
người trong gia đ́nh!
Năm
1999, tôi có dịp hỏi một nhân chứng ruột thịt
của Phùng Cung. Con anh, là Phùng hà Phủ, đến thăm tôi vào dịp
Giáng Sinh. Phủ kể, "…thời Cải
Cách Ruộng Đất, ông nội cháu lo v́ có thể bị
qui là địa chủ cường hào, và quả là sau ông bị
đấu tố rồi đưa lên giam trên Thái Nguyên.
Bố cháu lên thăm, nhưng đến nơi th́ mộ
ông cháu mới đắp, trên chỉ có một ngọn sắn
lá đă héo để đánh dấu, đất c̣n ướt…". Phủ châm thuốc lá, rít một
hơi, thở dài "thế mà trước đó bố
cháu cứ tin rằng có một bày con đi kháng chiến th́
sẽ chẳng đến nỗi nào!".
Nói qua quít để an ủi, tôi bâng quơ "chắc ông ấy
hận lắm…". Cời
thanh củi cho cháy bùng lên trong ḷ sưởi, Phủ khe khẽ
lắc đầu. Lát sau, Phủ trầm
ngâm "Bố cháu hận th́ không, nhưng buồn th́ có.
Buồn đến độ bố cháu chẳng c̣n muốn
gặp ai… Sau, bố cháu kể, oan th́ có oan, sai th́ có sai,
nhưng thời đó chuyện ấy đầy rẫy, cải
cách rồi sửa sai…". Nghe Phủ th́ thào, tôi thốt nhiên chột dạ.
Tôi nhớ đến lời những lănh tụ
nhắn nhủ, cứ vừa làm vừa học, rút kinh nghiệm,
hễ thấy sai th́ sửa. Trời ơi, nhưng
sai mà gây ra án mạng, cướp sống
những cuộc đời vùi vào ba tấc đất oan
khiên mất rồi th́ sửa làm sao? Nhưng sai mà phá tan nát
cái cấu trúc cơ bản làng xă, kích thích ḷng tham lam và hận
thù khiến nhân nghĩa lộn lạo, th́ sửa làm sao?
Sửa thế nào
được khi những con rắn giáo ba đầu sáu tay lẩn vào ước mơ và dùng ngôn từ
để ngóc đầu nhe răng phun nọc!
*
Phùng
Cung chỉ buồn? Anh tiếp tục công tác trong cơ
quan hội Văn Nghệ. Đến khi Nhân Văn ra đời,
anh đợi đến số 4, tháng 10, năm 1956 mới
đưa in Con Ngựa già của Chúa Trịnh. "Thế
th́ 5 năm sau, tức vào năm 1961, người ta lại
bắt bố cháu đi tù? Và tù liền 12
năm? Tại sao?"
Phủ
không trả lời, chỉ thở dài. Nhưng
sao tôi nghe đâu đây như có tiếng ngựa hí? Không, ở xứ này giờ đây là mùa Đông,
ngoài trời lạnh –20 độ C, nước chỉ
dăm phút là đóng đá. Gió rít lên, lửa trong ḷ
sưởi chập chờn, tuyết bay bám vào cửa kính vẽ
mơ hồ những đoá hoa trước lúc hóa băng.
Tại
sao?
Lại
tiếng ngựa, nó hí, vó đạp lộp cộp xuống
mặt đất co cứng. Con Kim Bông chăng? Chắc nó
đang "cao đầu phóng vĩ’, cái
thế con Thiên lư mă lệnh xông xáo trận mạc ven sông
Gianh. Mà nào đâu sông Gianh, nay ḥa b́nh lập lại
rồi. Đây là Hà Nội, thủ đô
của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa.
Như vậy th́ Kim Bông đang hàm ân thánh
đế, ở mă đài, để bọn mă phu dăm bảy
đứa chải bờm tỉa lông. Rồi một ngày:
"…khi mă phu buông tay; lạ lùng lắm, nó thấy hai vật ǵ
to bằng cái lá đa che ngang hai bên mắt, khiến nó có thể
nh́n thẳng phía trước mà thôi. Rồi mă
phu đẩy nó lùi lại, đứng vào giữa hai càng gỗ
sơn son thếp vàng. Ủa lạ quá chừng,
những cái ǵ mà đẹp thế này? Ta sẽ làm ǵ
đây? Nó rùng ḿnh, thấy hănh diện như được
sống một kiếp sống khác, sung sướng hơn
trước.
Bỗng dưng hai
càng gỗ dúi mạnh một cái, cổ nó bệt xuống,
miệng nó gần chạm đất, nó vừa ngóc
được th́ dây cương đă gh́m thẳng. Nó cất
bước thấy nặng; cái nặng quái gở, như
bóp nghẹt lấy cổ, có lúc bềnh bồng nhẹ
đi một chút nhưng rồi gáy nó càng như lún xuống
…Khi nghe tiếng bánh xe nghiền trên mặt
đá nó mới biết là nó đang kéo xe cho Chúa.
Nó gục đầu
xuống lủi thủi kéo chiếc xe
qua sân, hai mắt lờ đờ nh́n thẳng, mỏi mệt,
chán ngán…" (Trích Con Ngựa già của Chúa Trịnh)
Phủ
tiếp, giọng trầm hẳn xuống, Bố cháu ra tù
khi hai anh em cháu đâu mười một, mựi hai. Một hôm, cả
nhà cháu đi bộ trên lề phố Trần Hưng Đạo,
khúc gần Bà Triệu, th́ có tiếng gọi, Cung ơi,
Cung. Mọi người quay lại. Bác Dần
đứng lề bên kia vẫy. Bố
cháu chưa kịp phản ứng th́ mẹ cháu giằng lấy
tay, miệng van vỉ, em lậy anh,
đi thôi…Em và các con đă khổ lắm rồi…Đi thôi,
anh ơi! Ra tù, bố cháu cách ly với bạn bè, chỉ chuyện áo cơm cũng đă khổ
sở. Đập đinh, rồi làm bánh.
Và khi có việc th́ nề, mộc…Thế mà công an họ cứ
đến "làm việc", khủng bố tinh thần
đến độ mẹ cháu bảo thà là ở trong tù
c̣n hơn…
*
Tại
sao?
Hay là…
"Nó gục đầu
xuống lủi thủi kéo chiếc xe
qua sân, hai mắt lờ đờ nh́n thẳng, mỏi mệt,
chán ngán.
Nhưng chẳng bao
lâu, những chậu thóc trộn mật vừa ngọt vừa
bùi, những bó lá trúc quân tử vừa thơm
vừa ḍn sậm sựt đă cùng những buồn tủi
sầu muộn, cùng những ước mơ trôi qua ruột,
tống ra ngoài trả lại cho quá khứ. Con thiên lư dần
dần quen với chức vị. Nó thấy
ḿnh phải pḥ Chúa đến hơi thở cuối cùng mới
xứng danh Thiên lư mă" (Trích Con Ngựa già của Chúa
Trịnh).
Chức
vị nào trong Hội? Hội Nhà Văn hay liên hiệp hội
Văn Học Nghệ Thuật? Ông Nguyễn
đ́nh Thi? Hay là ông Tố Hữu? Hay cả
hai. Hoặc lại ông Tô Hoài, con dế
mèn phiêu lưu nó ph́nh to hơn chính người ông, như
Phùng Cung từng nhắc lại sau này trong một truyện
ngắn? Tôi không biết. Và nay, có những người đă nằm xuống.
Nghĩa tử là nghĩa tận. Tôi chép
bài thơ Bụi sao rơi, rất Phùng Cung, gửi viếng
họ:
Đèn bên sông
Hay bụi – sao
rơi
Mà hiu hắt cơ hồ
muốn tắt
Có phải bóng h́nh
người
Đă khuất
Mộng công hầu
chưa đạt
Nay lại lần về
mượn cửa
tái sinh.
Cơn băo tuyết
đêm qua đánh tan những đám mây khiến sáng dậy
mặt trời nở ra rực rỡ. Dưới ánh nắng
tươi vàng, hai chú cháu đi dạo trên những con
đường tuyết phủ trinh bạch, chưa một
vết chân, chưa có ǵ thừa thăi, dẫu một lời,
dẫu một hơi thở. Chúng tôi bước trong giấc
mơ nguyên thủy, khi lời nói c̣n âm điệu tiếng
chim ban sơ. Phủ ngừng chân, buột miệng "…tiếc
là bố cháu chưa gặp chú!". Chép miệng, tôi ngần ngừ, duyên phận cả.
Phủ kể, bố cháu một hôm nắm tay
cháu, cao hứng đọc thơ cho cháu nghe. Bố bảo
họ Phùng nhà ta chẳng có ǵ, chỉ có cái này, tay đưa cháu một tập bản thảo,
toàn chữ là chữ. Cháu c̣n ngơ ngác th́ bố cháu đập
tay lên vai, cười, "…có cái này là có đóng góp cho đời…Con
phải biết hănh diện!".
Tôi nói,
Phủ nhớ, đọc một bài đi. Phủ rưng
rưng:
…mồ hôi Mẹ
Tháng ngày đăm
đăm nhỏ giọt
Con níu giọt mồ
hôi
Đứng dậy
làm người
Tôi lặng
đi, lần đầu nhớ một người
chưa gặp.
Lát sau,
nh́n Phủ, máu mủ của cái con người ấy, tôi
thành thực "…Chú gặp bố cháu rồi đấy. Gặp
ở cái thế Đứng. Đứng dậy làm người".
Vừa dứt lời, tôi ứa nước mắt.
Vâng, dẫu nước mắt là cái chẳng một ai dám
tưởng ḿnh có thừa!
*
Vào đầu thập
niên 80 tôi có hỏi nhưng không một ai biết ǵ ngoài Con
Ngựa già của Chúa Trịnh. Như vậy, chẳng phải
những Truyện Ngắn viết từ 56 đến 59
nhưng không phổ biến đă là cái đẩy Phùng Cung
vào cảnh tù tội. Thế th́ Tại sao?
Nói đến chức vị thôi, làm sao có thể
gây thâm thù đến độ đày đọa nhau đến
thế? Bỗng đâu tiếng chân ngựa
lại chậm răi lộp cộp. Có phải vẫn
Kim Bông, con ngựa Mă lệnh mang danh Thiên lư nay kéo xe…
"…Từ ngày vào phủ
Chúa, lần đầu nó được đi ra ngoài. Nó ao ước thăm cảnh cũ. Xe ra khỏi
phủ Chúa, bon bon trên con đường đất rộng
thênh thang. Nh́n thẳng phía trước, nó lấy làm lạ,
nó kêu í í trong cổ như tự hỏi "Làm sao con
đường này ngày xưa rộng mà nay nhỏ bé như
thế này!" Đi được một quăng nó nh́n lên
phía trên, lại đứng tự hỏi: "Ô hay, ngôi chùa
kia, ngày xưa rơ ràng nằm bên cạnh một
quả đồi lớn, mà bây giờ quả đồi lại
nhỏ bằng con đường ta đi là nghĩa làm
sao?" Tất cả những cảnh vật
trước mắt nó đều nhỏ lại, và thẳng
tắp. Nó nh́n cánh đồng, cánh đồng
cũng chỉ là một đường thẳng. Rồi
cây cỏ, núi đồi cho đến mầu giời xanh cũng
chỉ thu lại là một đường
thẳng. Nó không ngờ hai chiếc lá đa
che hai bên mắt chỉ cho nó nh́n được một chiều."
(Trích
Con Ngựa già của Chúa Trịnh).
Anh Cung, chịu anh!
Quả đồi cũng thẳng, mầu trời xanh cũng
thẳng nốt, và tất cả đều nhỏ bé lại
bằng con đường ta đi. Anh nói thế là chạm
nọc rồi, và lại nói gần năm mươi
năm trước như một lời tiên tri, ở thời
điểm có kẻ lu loa rất "khoa học" là có sức
người sỏi đá cũng thành cơm!
Ôi cái thân trâu ngựa!
Kim Bông hỡi Kim Bông! Con ngựa chiến đi kéo xe, ‘‘trước hơi thở cuối cùng, nó lấy hết
sức tàn, ngóc đầu lên cao, co co hai chân trước, thẳng
thẳng hai chân sau, chừng như cố để giữ
lấy cái thế "cao đầu phóng vĩ". (Trích Con Ngựa già của Chúa Trịnh).
Cái thế đó c̣n gọi
là cái thế có kẻ ao ước làm một tên hát rong, un
chantre, mà Tố Hữu kể cho Phùng Quán nghe vào lúc thất
thế cuối đời. Chantre, là kiểu Văn Cao
gọi Trịnh Công Sơn. Và đến nay tôi vẫn
chưa h́nh dung ra nổi sự tương đồng giữa
Sơn và nguyên Ủy viên Bộ Chính Trị ĐCSVN Tố Hữu.
Ô hay, tôi ơi, đừng tuyệt vọng!
*
Đến
giữa những năm 90 người ta mới biết có
Xem Đêm, và câu chuyện cảm động Nguyễn Hữu
Đang mang hết tiền dành dụm chắt bóp cùng Phùng
Quán t́m cách in thơ Phùng Cung. Phủ nói, cháu có tâm nguyện
in cho bố cháu một tuyển tập. Dẫu có
đọc, nhưng đọc chút ít, tôi khuyên, thơ không cần
nhiều, nhưng phải hay. Một đời thơ chỉ
5,10 bài là đủ. Phải đến
khi Phủ chuyển cho tôi, tôi mới biết ḍng thơ
Phùng Cung có cái chất long lanh của những hạt
sương đậu trên cánh lá non xanh một sáng tinh
mơ của vạn vật. Mời nhau cùng nghe:
Lá súng lát mặt ao
đốm ngọc
Con sộp phàm vồ
hăo
Bóng hoa lay
Lá tre rụng
Nhuộm hoàng hôn
đỏ gạch
Tiếng cuốc bèo
da diết
Gọi Ngày Mai
Đố con sộp là con ǵ?
Tôi mở Từ Điển Tiếng Việt do Trung Tâm Ngôn
Ngữ ở Hà Nội in năm 1992, nguyên Chủ Tịch Hội
Đồng Bộ Trưởng Phạm Văn Đồng
có viết tay trân trọng giới thiệu, là quyển từ
điển đầu tiên ở nước ta do một tập
thể cán bộ ngôn ngữ học biên soạn trên cơ sở
tư liệu tương đối đầy đủ.
Tra xem sao:
Sộp t
(kng.) Sang, tỏ ra nhiều tiền và hào phóng. Khách sộp, Vớ được món sộp.
Thế th́ con sộp
là cái quái ǵ? Từ điển im như hến.
Vậy xin mách, sộp, danh từ, là một loại cá sống trong
ao. C̣n phàm. Dễ thôi.
Con Mực phàm ăn vồ hăo cục
xương. Nhà thơ phàm danh vồ hăo những con chữ
trống trơn. Thế mà sao Nhà Nước
ta không mời Phùng Cung vào làm Từ Điển nhỉ?
Nhưng thôi, cho tôi
quay về với thơ, không chơi tṛ chiết tự nữa.
Đầu tiên, phải nể cái kho chữ Phùng Cung. Chữ
thôn dă, nhưng anh nâng lên thành một vẻ đẹp hồn
nhiên, chẳng khác cái duyên thầm không tô son điểm phấn,
mà sao nét cười quanh vành nón cứ vấn víu ḷng ai. Xin kể:
Đêm về
khuya. Trăng ngả màu thiên lư. Tiếng gọi đ̣. Căng chỉ sang sông.
Hay là Gió bạc cánh. Chưa hết ṿng kim
cổ. Làng cách làng. Từng
quăng – phong dao. Hoặc Chó sủa làng xa. Sủa hơn xóc ốc. Sáo diều
ai hóc – gió ven sông. Quay lại cấu trúc thơ,
dẫu câu có cắt ra 3 hay 4 chữ, ta vẫn dễ dàng nhận
ra gốc gác Đường thi. Nhưng trong thơ Phùng
Cung, ngôn ngữ và h́nh ảnh thuần ca dao, nâng cái đẹp
chân quê lên mức hết sức trang trọng với mặt
ao đốm ngọc, hoàng hôn đỏ gạch. Và không chỉ
có cái đẹp h́nh thức, nhà thơ đột nhiên để
tiếng cuốc bèo da diết gọi Ngày Mai nói thay cho ḷng
ḿnh, tức là chuyển đi cái nội dung mà thơ hay
văn, bất kể h́nh thức nào, cũng cần có để
sống c̣n với thời gian.
Anh Cung, tiếng cuốc
trong thơ anh chắc cũng đau đáu cái nỗi
đau con quốc quốc của Bà Huyện Thanh Quan. Nhưng chỗ tụ lửa trong tâm hồn anh,
tôi đồ, vẫn là Ngày Mai anh viết hoa. Và anh vẫy gọi. Da diết
gọi.
Nhưng
Ngày Mai ở đâu? Và bao giờ, hở anh?
*
Lần
cuối về Hà Nội, tôi đến thăm anh Hoàng Cầm
và báo tin Phùng hà Phủ đă qua đời. Phủ đi làm về,
ghé quán bia với bạn, bỗng ngật
người đi hôn mê, đưa vào cấp cứu
nhưng không qua được bàn tay tử thần. Rủ nhau xuống chia buồn với chị Thoa,
nhưng mấy ngày sau anh Cầm lại bị ngă gẫy
xương chậu, nằm bẹp. Thế
là chịu. Thôi th́ cứ ngày ngày đến
chia sẻ với anh Cầm, mong anh có được chút niềm
vui trong những ngày nằm bệnh. Chuyện
tṛ, anh lại kể. Con người Phùng Cung là một
con người của những thái cực. Xưa,
Trần Dần nhận biết anh ấy là loại tử
v́ đạo, im lặng th́ có nhưng đầu hàng th́
không. Một vai, anh ấy âm thầm gánh cái nặng của
anh em, giọng "kiểm thảo" vẫn cứ ngoan
cố lửng lơ, đúng là theo kiểu
cao dầu phóng vĩ của một con ngựa chiến
không chịu thành gia súc cho nhà Chúa. Khi anh ấy bị
đưa đi quản thúc trên Bất Bạt, chị Thoa
lên thăm nuôi, nhưng anh ấy nhất định không nhận
chị Thoa là vợ, không cho nh́n mặt, trả lại tiếp
tế và khăng khăng một mực là ḿnh không c̣n liên hệ
ǵ với thế giới bên ngoài. Lần đầu,
chị khóc sướt mướt. Đành
về, rồi ít lâu sau chị lại lên. Anh Cung vẫn thế. Quản
giáo vặn, lư lịch anh khai là đă kết hôn, thế là
khai man. Anh đáp, thời ấy Đảng
không đồng ư cho tôi lấy v́ cô ấy thuộc giai cấp
phong kiến, mà tôi th́ mê mẩn, mất lập trường
giai cấp. Nay tôi tỉnh ngộ, nhận có chung sống ngày trước, nhưng từ
bây giờ tôi xin chấp hành…Thế th́ anh lợi dụng hủ
hóa, thêm một tội, quản giáo gằn giọng. Ừ th́ thêm một tội. Thêm
một chứ mười tôi cũng chịu…Chị Thoa lại
về, để tiếp tế lại chia chác cho anh em tù.
Và chị cứ lên. Anh tiếp
tục ruồng rẫy. Ba lần, bốn lần…
Tôi thở dài, có lẽ
là anh Cung mong chị quên anh ấy đi, chứ đă mang
cái án miệng là phản động, là chống Đảng,
bôi bác lănh đạo như anh ấy th́ biết ngày nào ra! Vả
lại, chị Thoa khi ấy c̣n trẻ…Anh Cầm chép miệng,
chắc vậy! Nhưng chị Thoa vẫn cứ đều
đặn lên thăm nuôi, cho đến một ngày, hơn
hai năm sau, hai vợ chồng mới lại nh́n lại
nhau…Và chị Thoa sống cảnh chia ly như vậy suốt
12 năm đằng đẵng!
Tại
sao? Tôi muốn hỏi lại, một lần cuối,
tại sao? Đọc Xem Đêm, tôi
nói với anh Cầm, tôi chưa hề thấy Phùng Cung mang
thù hận vào thơ. Anh buồn và xót xa.
Nhưng anh vẫn nhân hậu. Anh vẫn trong trẻo. Thậm
chí độ lượng. Anh Cầm giơ tay xoa mặt, mắt đờ đẫn
nh́n vào khoảng không choăi về phía nơi quá khứ c̣n
nương náu. Tại sao ư? Đó là
câu chuyện của những con ngựa cung đ́nh. Chúng
không thể để dăm con ngựa chiến tồn tại
để phủ nhận chính chúng. C̣n Vua Chúa, thói thường
là họ yên tâm với những con ngựa đă thuần, leo lên lưng, ra roi, nắm bờm và chờ
tiếng hí đă rập khuôn rắp mẫu. Nhưng có hoạn
nạn, anh Cầm cao giọng, th́ Cung nó mới có thơ hay
như vậy! Anh cười, thế là bội thu đấy. Anh tiếp tục cười,
nhưng tôi nghe có ǵ như tiếng nấc ừng ực…
*
Lạy vua Từ Hải,
lạy văi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều, thực ḷng tôi
chưa bao giờ quan tâm đến cái thuyết Tài Mệnh
tương đố, bảo Cung có tài nên trời xanh ghen với
má hồng đánh ghen. Tôi cho rằng Phùng Cung
trả giá chẳng phải v́ anh thâm thù chuyện cha anh bị
đấu tố mà hóa ra "chống phá Cách Mạng".
Tôi tin Phùng Cung trả giá chỉ v́ anh níu giọt
mồ hôi Mẹ, đứng dậy Làm Người.
Và ở cái tư thế làm người, anh không muốn
nh́n một chiều kiểu con ngựa cung đ́nh có hai chiếc
lá chắn che mắt, chỉ thấy con đường ta
đi nhỏ bé trước mặt, thẳng tắp cho
đến độ màu xanh da trời cũng thẳng. V́ thế, anh không đành tâm để Vua Chúa cưỡi
lên lưng khiến anh làm con ngựa tôi đ̣i. Anh chẳng thể cuống cuồng nhai danh vọng
trộn với thóc và mật ngọt trước khi chạy
những ṿng đua nịnh hót. Và anh lại
chẳng như Hữu Loan xuôi ra Thanh Hóa, như Nguyên Hồng
bỏ lên Bắc Giang, đi cho khuất mắt những con
ngựa cung đ́nh rắp ranh bổng lộc. Anh sờ
sờ ở Hà Nội, nơi ngựa cung đ́nh nhởn
nhơ nhưng chưa an tâm. Đợi dịp, chúng xúm lại, hóa thân thành giống
biết sủa biết cắn và biết đẩy anh vào
cái thân phận tội đồ.
Trong tù,
anh chỉ c̣n thơ. Và trăng.
Trăng qua song sắt
Trăng thăm ngục
Bỗng ta chợt tỉnh
Sững sờ
Trên vai áo tù
Trăng vá lụa
Ngày xưa ơi!
Xa măi
đến bao giờ.
Ra tù sau 12 năm, giam
ở Hỏa Ḷ, rồi Bất Bạt,Yên B́nh, Phong Quang, anh
c̣n gia đ́nh. Và bè bạn. Và nhất là anh có một Di cảo
Thơ-Văn anh đă dặn ḍ Phủ "…Có cái này là có
đóng góp cho đời… Con phải biết hănh diện!".
Không phải chỉ
có Phủ hănh diện, những ai theo gót
anh cũng hănh diện, anh Cung ạ! Cuốn sách Phùng Cung
11 Truyện Ngắn Tập thơ Trăng Ngục Thơ
Xem Đêm được in và phát hành ở hải ngoại
chẳng phải là cách tưởng niệm anh, một nhà
văn ở cái nghĩa đúng nhất, hay sao.
NAM DAO
18-06-2004