
SILENT-EVOLUTION_ Photo by Jason deCaires Taylor
Nguyễn Phi Khanh sinh năm 1355 và mất năm 1428[1] (có thuyết nói ông
sinh năm 1336, mất năm 1408[2]), quê ở xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Tây (có
thuyết nói ông còn có quê thứ hai ở Chi Ngại, Chí Linh, Hải Dương). Ông tên
thật là Nguyễn Ứng Long, sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống võ tướng.
Nhưng ông lại là người say mê văn chương, am tường kinh sách, thơ phú, nên thuở
trẻ khi chưa đỗ đạt, ông được quan Tư đồ Trần Nguyên Đán mới vào dạy học cho
con gái đầu là Trần Thị Thái. Đó cũng là cơ duyên để ông trở thành con rể của vị Tư đồ danh tiếng này. Và
vì thế, từ trước đến nay, ông được biết đến nhiều có lẽ chủ yếu là vì ông là
con rể Trần Nguyên Đán và là cha đẻ của Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc văn
võ kiêm toàn ở thế kỷ XV, hơn là với tư cách một nhà thơ tiêu biểu của thời Vãn
Trần.
Nhưng ông thực là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thời Vãn Trần,
để lại nhiều tác phẩm có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của lịch sử văn
học thời kỳ này.
Nguyễn Phi Khanh đỗ Thái học sinh dưới triều Trần Duệ Tông, năm Long
Khánh thứ 2 (1374). Nhưng ông không được trọng dụng và bổ làm quan dưới triều
nhà Trần. Có nhiều thuyết giải thích khác nhau về việc này. Có thuyết cho rằng
vì ông xuất thân bình dân nên không được nhà Trần trọng dụng(?). Lại có thuyết
cho rằng vì ông là con gia đình quan võ, nhưng giỏi văn học, chính trị, có nhiều
ảnh hưởng trong nhân sĩ, nên nhà Trần nghi ngại không giao cho chức quan gì(?)... Nhìn chung các đoán định này đều
thiếu thuyết phục và cho đến nay ta vẫn thực chưa biết vì sao ông không được
trọng dụng dưới triều Trần. Sau này khi nhà Hồ lên nắm quyền, ông mới được vời
ra và trọng dụng. Ông làm
quan dưới triều Hồ trải qua nhiều chức vụ như Học sĩ Viện Hàn lâm, Thông Chương
đại phu, Đại Lý tự khanh kiêm Trung Thư thị lang, Thái tử tả tán Thiện đại phu,
Tư nghiệp Quốc Tử Giám... Năm 1407, nhà Minh xâm lược nước ta, cùng với cha con
Hồ Quý Ly, ông bị bắt về Kim Lăng, Trung Quốc và mất ở bên đó.
Tác phẩm của ông có Nhị Khê tập, đã bị mất mát nhiều, nay chỉ
còn 69 bài chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn. Tuy thế, ông vẫn
là một trong những nhà thơ có nhiều tác phẩm còn lại nhất trong thời Trần.
Nguyễn Phi Khanh sinh trưởng trong thời kỳ suy thoái của triều Trần. Thơ
văn của ông là tiếng nói, là tâm trạng tiêu biểu của người trí thức Việt Nam
trong thời buổi đất nước loạn
ly. Cảm hứng rõ nhất trong thơ ông là cảm hứng về đạo lý của kẻ sĩ khi đất nước
bất an, thế cuộc điên đảo, tương lai u ám. Đọc lại lịch sử nước Việt thời kỳ
này, ai cũng cảm thấy có một không khí thật nặng nề, u tối. Triều đình sa sút, bạc nhược, yếu hèn, thiên tai, địch
hoạ liên miên, khiến không chỉ đời sống của người dân bị cơ cực, mà ngay cả một
bộ phận quý tộc, quan lại, trí thức cũng không tránh khỏi hoàn cảnh buồn thảm. Người ta buồn thảm về công danh sự
nghiệp mờ mịt. Chu Văn An
từng than thở: “Công danh đã đi vào giấc mộng hoang đường” (Làm thơ ở Giang
Đình). Thất vọng về công danh bế tắc, Nguyễn Ức viết: “Đường công danh vạn dặm chưa tỏ lối” (Đêm
thu cùng bạn cũ Chu Hà kể chuyện đã qua)...
Người ta buồn thảm về đời
sống nghèo túng, bất an, vô vọng...
Tiếng than van vang lên trong
thơ văn của nhiều thi sĩ thời này như một thứ âm thanh, như một thứ âm nhạc của thời đại. Thơ văn chính là
một loại âm nhạc của lòng người.
Muốn biết nước
thịnh hay suy, thì phải nghe “lòng người” chứ không phải nhìn màu cờ sắc áo phô
trương bên ngoài. Có thể nghe “lòng người” từ nhiều phía, trong đó tiếng lòng
cất lên hồn nhiên vô tư và chân thực nhất thường là âm nhạc. Nghe âm nhạc mà
biết được vận nước, biết được “thế đạo nhân tâm”. Nó cất lên từ lòng người nên
không gì cấm đoán được nó. Cổ nhân dạy, nhạc không phải chỉ là âm nhạc, nó cũng
là tiếng lòng của con người. Lòng người cảm ở ngoại vật mà sinh ra thanh âm.
Thanh âm tương ứng với nhau mà thành các cung bậc khác nhau. Đó cũng là cung
bậc tình cảm. Thanh âm ấy thể hiện ra ở cả múa hát, chuông trống, đàn địch, thơ
văn... Âm của nhạc chia làm năm bậc, hay là năm âm chính: Cung, thương,
giốc, chuỷ, vũ. Lòng người do cảm xúc ngoại cảnh mà thành âm nhạc, âm nhạc
lại làm cho lòng người thay đổi. Ấy là cái tương tác của nhạc và người. Ngoại cảnh đau đớn thì lòng người
thương xót, khi đó âm thanh nghe tiêu sái; ngoại cảnh tốt đẹp thì lòng người
vui vẻ, khi đó âm thanh nghe êm đềm, hớn hở; ngoại cảnh đen tối thì lòng người
giận dữ, âm thanh khi đó nghe dữ dội, bất yên; ngoại cảnh trang nghiêm thì lòng
người chính trực, khi đó âm thanh nghe trang trọng, hùng tráng; ngoại cảnh ấm
áp, yên lành thì âm thanh nghe tha thiết, dịu dàng, êm ái... Lòng người cảm
điều thiện thì có thiện thanh, lòng người cảm điều ác thì có ác thanh. Thiện ác
của nhạc là bởi lòng người sinh ra, rồi sau đó nó cảm lại lòng người, khiến cho
lòng người đổi thay, có thiện có ác. Nhạc có tác dụng lớn như vậy nên người xưa
chú ý dùng nhạc để cải hoá lòng người, cải hoá xã hội, khiến cho đạt tới sự chí
thiện, chí mĩ... Người xưa cho rằng nhạc phải có thanh âm hài hoà, tao nhã, để
di dưỡng tính tình... Nhạc vì thế, đều liên quan đến chính trị. Nghe âm nhạc mà
biết được lòng người, biết được không khí chính trị của chế độ (cũng như xem
văn học, nghệ thuật vậy). Chính trị tốt đẹp thì nhạc hay, chính trị xấu xa thì
nhạc dở. Âm nhạc thời thịnh thì vui vẻ, khoan hoà, tha thiết, âm nhạc thời loạn
thì buồn bực, tức tối, oán giận, sầu bi... Âm nhạc có quan hệ mật thiết đến
việc giáo hoá, đến tình hình chính trị, nên người xưa rất trọng nhạc.
Đời vua Trần Dụ
Tông (1341 – 1369), chính sự bắt đầu đổ nát, gian thần lộng hành, Chu Văn An
dâng Thất trảm sớ đòi chém bảy tên nịnh thần, nhưng vua không nghe, bèn
cáo quan trở về quê, mở trường dạy học. Hồ Nguyên Trừng trong sách Nam Ông
mộng lục gọi ông là “Văn Trinh ngạnh trực” (Văn Trinh, con người cứng rắn
và ngay thẳng). Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục – Tài phẩm viết: “Chu
An dâng sớ xin chém bọn nịnh thần, làm rung động cả trong triều ngoài quận, rồi
cáo quan trả mũ áo về nhà, không chịu tước lộc bó buộc, vua chúa phải tôn
trọng, công khanh phải kính phục, đấy là bậc thanh cao nhất”. Thời Mạt Trần có
cả một “phong trào” can vua của kẻ sĩ thể hiện trong các bài phú. Mượn lối tả
cảnh ngụ tình, trình bày sự việc để thể hiện ý tưởng của mình, hàng loạt kẻ sĩ
thời này đã sáng tác những bài phú nhằm bày tỏ thái độ phê phán đối với tình
trạng đổ đốn, nhiễu loạn của xã hội. Đó là khi giai cấp thống trị đi vào con
đường xa hoa hưởng lạc, mâu thuẫn giữa thống trị và bị trị ngày càng gay gắt.
Triều đình nhà Trần nghiêng ngửa. Lớp trí thức “loạn diệc tiến” thời này tâm
niệm phải "giúp vua được như Nghiêu Thuấn" (trí quân ư Nghiêu Thuấn
chi quân), nên quyết dấn thân. Thơ văn của họ nói lên cái khát vọng "phò
nghiêng, đỡ lệch". Xuất phát từ việc đề cao tư tưởng "đức trị",
họ đề ra yêu cầu cấp thiết của việc "tu thân" đối với đấng
"thiên tử". Nhà vua phải hàng ngày tu thân sửa đức mới mong cứu vãn
xã hội. Trong Thiên thu giám phú, Phạm Mại khuyên vua trau dồi đạo đức,
giữ vững lễ nghĩa: "Đạo đức rộng ra phép tắc, lễ nghĩa sánh chắc đá
vàng". Trong Quan Chu nhạc phú, Nguyễn Nhữ Bật khuyên vua nên dùng
âm nhạc làm phương tiện để sửa đức: "Tôn cái thế trung hoà thời cổ, sửa
đồi phong, nịnh hót đời suy". Trong Cần Chính lâu phú, Nguyễn Pháp
can vua không nên ăn chơi xa xỉ, mà phải chăm chỉ việc triều chính: “Thanh
sắc lánh xa chẳng thiết,/ Bắn săn bỏ dứt không chơi./ Cấm gấm vóc không cho là
quý,/ Mặc giản đơn làm trước mọi người... Thức khuya dậy sớm,/ sử dụng hiền
tài...” Họ cho rằng trách nhiệm của người cầm bút phải dùng ngòi bút cứu
vãn xã hội, dù có phải chịu hy sinh, mất mát, như tấm gương sử bút Đổng Hồ nước
Tấn đời Xuân Thu: “Khen điều gì không ngoài cái thiện / Truất điều gì không
ngoài cái ác / Cầm thẳng bút mà ghi chép hết, / Dù mảy may chẳng dám đơn
sai...” (Đổng Hồ bút phú). Đó là
âm nhạc thống thiết của văn chương, của lòng người thời đại này.
Đọc Đại Việt sử ký toàn thư, ta thấy nhan
nhản những ghi chép về một thời kỳ được xem là khá hỗn loạn của đất nước: Năm
1369, Dương Nhật Lễ lên ngôi, gây nhiều điều thảm khốc trong cung. Năm 1371 “người
Chiêm Thành sang cướp... đốt trụi cung điện, đồ thư cả. Trong nước từ đấy sinh
nhiều chuyện”. Năm 1373, giặc cướp đua nhau nổi dậy. Đại hạn, mất mùa liên
miên. Sau đó thì: Vua Dụ Tông lại “là người
ương bướng, tự theo ý mình, không nghe lời can...”. Vua Nghệ Tông sau này tuy được
một vài người ca tụng, nhưng cũng bị sử sách đương thời phê phán vì là người
khiến “đạo tam cương rối loạn”. Trần Phế Đế thì là ông vua “ngu hèn, chẳng biết
làm gì, uy quyền ngày một về người dưới. Xã tắc nghiên đổ, đến thân mình chẳng
giữ được”. Rồi lại “đại hạn, đói to”. Rôì thì nước Minh nhòm ngó, sách nhiễu. Đến
đời Trần Thuận Tông, “vua chỉ ngồi giữ ngôi không, chính sự do quyền thần làm
cả, tai hoạ đến thân mà không biết”. Đúng là, “nhà Trần từ sau Duệ Tông hoang
dâm phóng túng, thêm vào Chiêm Thành quấy phá, giặc cướp rất nhiều, giữa ban
ngày cướp đoạt của người, pháp luật không thể ngăn cấm nổi”[3].
Trong bối cảnh xã hội ấy, Nguyễn
Phi Khanh bước vào cuộc đời với bao hoài bão và cũng với nhiều nỗi thử thách,
gian nan. Vì lý do nào đó, có thể vì thân phận, có thể vì đố kỵ, dèm pha, có
thể vì khí chất con người ngay thẳng liêm chính không chịu khuất phục các thế
lực hắc ám lộng hành trong một triều đình thoái hoá, hay cũng có thể vì một lí
do khách quan nào đó mà chúng ta chưa biết được, nên tuy đỗ đạt cao, ông vẫn
không được nhà Trần trọng dụng. Phải mãi sau này, khi nhà Hồ lên, ông mới được
giữ một số chức quan, như đã nói. Đây có thể là thời kỳ tuy ngắn ngủi nhưng tươi
sáng nhất của đời ông. Nhưng ngay cả khi không được thi thố tài năng, hay cả
khi phần nào toại nguyên công danh, chúng ta vẫn thấy ông ôm một bầu tâm sự
không mấy yên ả, thanh thản.
Cảm
hứng trong thơ Nguyễn Phi Khanh
là cảm hứng thế sự, cảm hứng đạo lý. Nó giúp cho thơ ông
có “cá tính”, có nét riêng, và giúp
ta có thể thấy được một số giá trị riêng mà lâu nay chúng ta chưa thật chú ý đến,
làm cho thơ ông không chỉ là một sự giải thích “chung chung”, mờ nhạt, quen
thuộc về con người, về tâm hồn ông, vốn ít nhiều đã bị khuất bóng bởi hai nhân
vật nổi tiếng, một ở trước ông là nhà thơ - tể tướng Trần Nguyên Đán, đồng thời cũng là bố vợ ông, và một ở đằng sau ông là thi hào Nguyễn Trãi, cũng là con trai ông. Đúng là “người ta đã
không hiểu được tâm sự sâu kín của ông, thì dễ thường cũng không hiểu được thơ
văn sâu kín của ông, và như vậy là khó mà nhận chân được vẻ đẹp sáng ngời trong
văn chương của ông”[4]. Hay ngược lại là, người ta đã không hiểu được thơ văn sâu kín của
ông, và như vậy là khó mà nhận chân được vẻ đẹp sáng ngời trong văn chương của
ông, thì dễ thường cũng không hiểu được
tâm sự sâu kín của ông.
Chúng ta thấy có ba cảm hứng, ba nét tâm trạng được thể hiện khá rõ
trong thơ Nguyễn Phi Khanh, đó là tâm
trạng của kẻ sĩ dù tài cao mà không được trọng dụng nhưng vẫn lạc quan tin tưởng; là niềm khao
khát cống hiến tài trí cho triều đình, cho đất nước của người trí thức dù trong
bất kể hoàn cảnh nào; và sự đồng cảm, sẻ chia, yêu thương của người trí thức đối
với đồng loại, đối với chúng dân, những người nghèo khổ trong thời buổi nhiễu
nhương. Chúng đã làm nên nét riêng, làm nên giá trị của thơ ông. Những giá trị
này, những phẩm chất này có lẽ cũng được tiếp nối, được nâng cao, được thăng hoa trong thơ ca của
thi hào Nguyễn Trãi sau này. Và vì vậy, Nguyễn Phi Khanh chẳng những không bị
khuất lấp trước cái bóng sừng sững của Nguyễn Trãi, mà còn có vai trò quan
trọng không phải chỉ trong việc tạo dựng nên nhân cách, tâm hồn Nguyễn Trãi, mà
còn cả trong việc bồi dưỡng nên những phẩm chất văn học của Nguyễn Trãi.
*
Nhận xét về thơ Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Huệ Chi viết: “Trong tâm trạng
u uất của một người có tài mà không được thi thố, phải làm nghề dạy học nuôi
thân, Nguyễn Phi Khanh đã viết nên những vần thơ cảm thán nhẹ nhàng mà tinh tế.
Ở đây có chút gì như sự mặc cảm về cái vô dụng của cuộc đời, như là sự chán
ngán thế tình bạc bẽo, tin về niềm vui nhàn ẩn thanh cao của mình”[5]. Đinh Gia
Khánh lại cho rằng, “Nguyễn Phi Khanh trong khi nói lên nỗi buồn của mình đối
với hiện trạng của xã hội phong kiến vẫn không tỏ ra tuyệt vọng. Trái lại, ông đã
nói lên ý chí phấn đấu để cải thiện hoàn cảnh. Cái khí phách của tác giả tiêu
biểu cho khí phách của tầng lớp trí thức yêu nước đương thời”[6].
Trong bài thơ Thôn cư (Ở trong thôn), ông đã nói lên điều đó:
Thân ngoại phù danh phó trọc giao
Vạn sự vô doanh tâm tự khả
(Cái danh hão ở ngoài thân đã có chén rượu đục xoá bỏ
Muôn việc chẳng màng, lòng tự thanh thản)
Nhưng vẫn có những mối sầu nặng trĩu lòng ông trong những ngày ngã
bệnh, như bày giãi của ông trong Thu trung bệnh (Bị bệnh lúc mùa thu):
Vạn sự bội nhân tiêu tiệm vĩnh
Trữ sầu khi ngoạ sổ tàn canh
(Muôn việc đều trái với ý người, đêm dài thêm mãi
Chất chứa mối sầu nằm trằn trọc đếm canh tàn)
Hình như sau rất nhiều ngày tháng lăn lộn chốn đô thành kiếm tìm công
danh dưới triều Trần nhưng thất bại, ông đã quyết định trở về. Trong bài thơ Dụng
Trịnh sinh lưu biệt vận dĩ biệt chi (Dùng vần thơ lưu biệt của Trịnh Sinh để
từ biệt), ông viết:
Thân xá hảo tuần ôn thanh hậu
Thế đồ cam tả lợi danh tiêu
Vân sơn tạc mộng tầm hương lý
Hồ hải tư du cách thị triều
(Trong ngôi nhà của cha mẹ hãy theo thời tiết ấm lạnh
Trên đường đời đành gỡ bỏ cái dàm danh lợi
Giấc mộng núi mây ngày trước tìm về quê hương
Chuyến chơi hồ hải này cách xa thị triều)
Ông muốn tìm niềm vui nơi suối rừng để quên lãng, mà ông cho đó như là
một điều quý giá nhất. Trong bài Du Phật Tích sơn đối giang ngẫu tác (Chơi
núi Phật Tích, đối diện dòng sông, ngẫu nhiên làm thơ), ông muốn học người xưa:
Phù thế bách niên chân nhất thuấn
Cổ nhân phiến lạc trị thiên câm
(Cuộc đời trăm năm, thực chỉ như ánh chớp
Vui chơi một khắc, người xưa đánh giá nghìn vàng)
Cũng phảng phất một dáng vẻ tiên phong đạo cốt nhàn tản chốn ẩn cư, tuy
rằng hình như không hẳn đã thật phù hợp với tuổi tác của ông những năm tráng
niên còn day dứt mộng công danh này, nhưng chỉ vì bất đắc dĩ mà làm một người
ngao du nơi sông núi. Vậy nên cái tâm trạng trong bài Du Côn Sơn (Chơi
núi Côn Sơn) vừa như là “tả thực” lại vừa như có vẻ bông đùa:
Bách niên phù thế nhân giai mộng
Bán nhật thâu nhàn ngã diệc tiên
(Cuộc phù thế trăm năm, người người đều như mộng
Trộm cái nhàn nửa ngày, ta cũng là tiên)
Bởi vì đúng là thơ Nguyễn Phi Khanh trong thời kỳ này chủ yếu là tâm
trạng ưu sầu. Trong bài Thu nhật khiển hứng (Khiển hứng ngày thu), ông viết:
Thế thái nhậm tha hoàn phiến bạc
Nhàn sầu khuyến ngã tửu bôi không
(Thói đời mặc họ như chiếc quạt lụa mỏng
Mối sầu vẩn vơ giục ta cạn chén)
Nhưng cũng đúng là thơ ông không thấy cái bất lực buông xuôi, mà vẫn có
cái khảng khái, chí khí của con người có sức mạnh nội tâm để chiến thắng hoàn
cảnh. Trong bài Ngẫu tác (Ngẫu nhiên làm thơ), ông cho rằng mọi sự trên đời
đều là do con người ta thể hiện, con người ta đều có thể tìm thấy sự “thoả
thích” tuỳ theo bản thân mình:
Càn khôn hình trước giai ngô đạo
Phi dược cao thâm khả toại nghi
(Vật hữu hình trong trời đất đều do ta biểu hiện
Chim bay trên trời cao, cá nhảy dưới vực sâu đều có thể thoả thích)
Vì thế mà trong những ngày nhàn ở chốn quê nhà, ông mới có thể “tan nỗi
lo”, mới tìm được sự “thư thái”. Trong bài Gia viên lạc (Thú quê nhà),
ông viết:
Tâm tòng nhàn xứ htiên ứu thất
Học đáo xung thời tứ thể thư
trục vật lao nhân hưu ngộ ngã
An Nhân chí dĩ toại u cư
(Lòng hướng về cái nhàn, ngàn nỗi lo tan hết
Học đến mức sung mãn, chân tay thư thái
Chạy theo vật dục, người đời nhọc nhằn, ta chớ lầm nữa
Được ở chỗ thanh u, chí An Nhân đã toại rồi)
Tâm trạng đó nói lên cái đạo lý làm người của Nguyễn Phi Khanh, dù
trong hoàn cảnh khó khăn nhất vẫn giữ vững chí khí, vẫn lạc quan chờ đợi, tin tưởng
vào một ngày mai thay đổi.
*
Niềm khao khát cống hiến, những tâm sự của một người được trọng dụng đã
làm nên những nét tươi sáng trong thơ Nguyễn Phi Khanh trong thời gian ngắn
ngủi ông được làm quan dưới triều Hồ. Đúng là, “trong phần thơ làm sau khi làm
quan với nhà Hồ, tâm tình Nguyễn Phi Khanh có phần khác trước. Đó là niềm vui
của một người gẵn bó với triều đại mới, nhìn vào cảnh vật thấy rạng rỡ hơn, vì
tâm tư của mình đã giải thoát được nhiều nỗi buồn... Dĩ nhiên phần thơ này
không có mấy... Âm hưởng chung của thơ ông vẫn là âm hưởng ưu sầu”[7].
Tâm trạng hào hứng cống hiến, hăng hái phụng sự cho triều đình, cho chế
độ cũng đã từng được ông thể hiện khi ông còn lận đận, “hàn vi”. Trong bài thơ Xuân
hàn (Cái rét mùa xuân), ông đã từng mong được làm một cái ống bễ để thổi
ngọn gió hoà tới khắp muôn dân:
An đắc thử thân như thác thược
Hoà phong hư biến cửu châu tâm
(Mong sao thân này được như cái ống bễ
Thổi ngọn gió hoà tới khắp lòng người chín châu)
Vẫn biết trên con đường “hoạn lộ” luôn lắm chông gai, nhưng ông mong
muốn phải biết vượt lên trên chống gai, hiểm hóc để mà phụng sự, để cống hiến.
Trong bài thơ Hạ Tống, Lê, Đỗ, tam Ngự sử (Mừng ba vị quan Ngự sử họ
Tống, Lê, Đỗ), trước đây ông từng hào hứng chúc mừng những người được triều
đình trọng dụng:
Dĩ tương phong thái nghi triều trứ
Hảo bả tinh trung động tử thần
Lưu thủ thanh danh quang vạn cổ
Thế gian kỳ lộ tổng yên trần
(Đã đem phong thái làm khuôn thước ở triều đình
Hãy đem lòng trung khích động đến điện tía
Gắng lưu lại tiếng thơm sáng muôn thuở
Những con đường trên cuộc đời này thảy đều khói bụi)
Vẫn biết chốn miếu đường là một sân khấu chính trị mà ai can dự vào
cũng chỉ là một “diễn viên”, như chính ông trước đây có lúc buông lời trào lộng
trong bài Thành trung hữu cảm ký, trình đồng chí (Gửi trình các bạn đồng
chí những cảm xúc khi ở trong thành):
Triều trung chu tử động phân phân
Huyễn nhãn thuỳ năng các tự phân
(Trong triều áo đỏ áo tía cử động rối loạn
Bởi mắt chẳng tinh, ai mà phân biệt được mình)
Nhưng nếu được nhà vua và triều đình tin dùng, chắc chắn ông vẫn nguyện
vì vua vì nước vì dân không một chút từ nan, như mong mỏi của ông bày tỏ trong
bài Hạ Trung thư thị lang (Mừng quan Trung thư thị lang):
Thánh thế thảng hoài di khí vật
Nguyện thi tài tảo đáo nông tang
(Đời trị, chúa có đoái trông đến vật bị vứt bỏ còn sót lại
Thì xin nguyện đem tài mọn này đến tận nơi thôn xóm)
Đó là cái lý tưởng của kẻ sĩ đối với đất nước, đối với triều đình, luôn
khao khát cống hiến, khao khát phụng sự. Nhưng có lẽ cảm hứng về điều này chỉ được
ông thể hiện sâu sắc nhất khi đã làm quan cho nhà Hồ. Trong bài phú nổi tiếng Diệp
mã nhi phú (Bài phú về con ngựa lá) ông đã không giấu giếm điều đó. “Theo
lời chú trong Quần hiền phú tập thì sau khi Hồ Quý Ly dựng thành Tây Đô
ở Thanh Hoá, có người dâng con bọ lá hình giống con ngựa (con bọ ngựa?), triều đình
cho là điềm tốt mới đặt tên nó là Con ngựa lá và ra đề cho các danh sĩ đương
thời làm phú chúc tụng việc này. Số người làm phú Con ngựa lá (Diệp mã nhi
phú) chắc khá nhiều, song hiện nay chỉ mới tìm được bài của Đoàn Xuân Lôi
và bài của Nguyễn Phi Khanh”[8].
Ông ca tụng con ngựa lá xuất hiện như điềm lành báo hiệu vận hội mới mở
ra cho đất nước, cho con người:
Phàm là vật trong trời đất, chẳng vật nào không nhảy múa trước xuân
phong, đượm nhuần trong hoà khí;
Người ước mong thoả nỗi ước mong, kẻ sinh sống vui niềm sinh sống;
Người khéo không trổ hết khéo khôn, kẻ tài kỳ dốc nghề tài kỳ...
Ca tụng vật lạ vật thiêng, cũng là ca tụng thời đại mới hứa hẹn bao điều
sáng sủa, nhưng khác những bài phú khác, đây không phải chỉ là một bài văn mang
cảm hứng ca tụng, ngợi ca triều đình, chế độ mà còn mang cảm hứng phê phán, cảm
hứng về đạo lý dùng người, đạo lý của bậc đế vương có điều cần chỉnh đốn trên
tinh thần “khuyến bách phúng nhất” (khuyến khích trăm lời, châm trích một lời).
Dù chỉ là “một lời châm trích” trong “trăm lời ngợi ca”, nhưng đó là cả một bầu
tâm huyết của tác giả. Nguyễn Phi Khanh muốn mượn hình ảnh con ngựa lá thiêng
lạ, sang quý làm mê đắm cả bậc đế vương ấy để đặt một vấn đề khác, lớn lao hơn,
rằng con vật lạ đó là quý giá thật, nhưng làm sao quý giá được bằng con người,
làm sao quý giá được bằng kẻ sĩ? Bậc đế vương muốn trị nước yên dân, muốn cho đất
nước cường thịnh thì phải biết quý trọng con người, nhất là kẻ sĩ. Phải biết
trọng người hiền tài, chăm lo cho con người như vốn quý của quốc gia, trên cái
tinh thần cao quý mà sau này khi phục hưng đất nước, có nhà Nho đã tổng kết:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Nếu nhà vua, hay rộng ra là giai cấp
thống trị, biết nâng niu, quý trọng con người, biết chăm lo cho con người thì
lòng dân sẽ tin theo, đất nước sẽ giàu thịnh, xã hội sẽ thái bình, nhược bằng
quý vật hơn người thì hậu quả sẽ chỉ là sự xa lìa chính giáo, chỉ làm tổn thất
nhân tâm, lòng người lý tán, và đất nước thêm rối ren loạn lạc. Trong bài phú,
ông tha thiết trình bày cái ý tưởng đó với Hồ Quý Ly:
Kính xem: tài năng thành trí, khó kẻ luận bàn
Lại trộm nghĩ: Suy xét lòng trời, dõi tìm nhân sự
Ví bằng sinh sâu thiêng trên cây, sao bằng sản kẻ sĩ cao thượng, người
kỳ tài trong thiên hạ?
Ví bằng vịnh thơ ngựa lá, sao bằng đọc thơ” Hữu Bật”[9] trong
thiên “Lỗ tụng”, giải về “Đức ký”[10] ở “Lỗ luận”?
Thế nên đối với vật thiêng lạ cũng đã yêu thương; huống gì đối với
loài xảo diệu còn hơn, và cực kỳ thiêng lạ!
Xin hãy đổi lòng yêu vật thành lòng trọng người hiền, đem chí đãi
vật làm chí đãi kẻ sĩ;
Xem lá cây nhớ thơ “Vực phốc”[11] trọng dụng con người, thơ
“Thanh nga”[12] dạy nuôi tài sĩ;
...
Khiến cho chốn triều đình tượng vẽ tìm được, vùng rừng rú rồng nằm
phấn khí;
Được như thế thì phô trương điều lành, ngợi ca đức tốt há chẳng lớn
lao rực rỡ hay sao?
Tư tưởng cao đẹp ấy sau này được chính con trai ông là Nguyễn Trãi tiếp
tục khẳng định lại trong sự nuối tiếc, xót xa cho một triều đại khá tươi sáng
nhưng đoản mệnh, là triều Hồ, trong bài thơ Quan
hải (Đóng cửa biển), khi nói về những cố gắng vô vọng của nhà Hồ trong việc
xây dựng một đội quân đông đến “trăm vạn người”, trong việc xây thành đắp luỹ
hay chăng lưới sắt để “đóng cửa biển”, nhưng vì không được lòng dân nên vẫn
thất bại thảm hại trước cuộc xâm lăng của giặc Minh:
Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền,
Trầm giang thiết tỏa diệc đồ nhiên.
Phúc chu thuỷ tín dân do
thuỷ,
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật,
Anh hùng di hận kỉ thiên niên.
Kiền khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lang
viễn thụ yên.
(Lớp lớp
cọc ngăn giữa sóng nhồi,
Thêm ngầm dây sắt - uổng công thôi.
Lật thuyền, thấm thía: dân như nước,
Cậy hiểm mong manh: mệnh ở trời.
Họa phúc có nguồn, đâu bỗng chốc?
Anh hùng để hận, dễ gì nguôi?
Xưa, nay, trời đất vô cùng ý,
Nơi sóng xanh cây khói tuyệt trời)
Con người ấy, khi bị lãng quên
vẫn kiên gan chờ đợi, khi được trọng dụng cũng rất cương trực, thẳng thắn. Cái đạo
lý của Nguyễn Phi Khanh là cái đạo lý của kẻ sĩ với khí tiết thanh cao,
phẩm chất trong sạch. Đó là một nhân
cách đáng trọng cả giữa buổi nhiễu nhương hay trong thời thịnh trị.
*
Cùng với Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh được xem là một nhà thơ gắn
bó với nhân dân, cảm thông sâu sắc nhất với nỗi thống khổ của nhân dân ở thời
kỳ Vãn Trần. Do điều kiện sống, và do khí chất con người, ông đã từng sống,
từng trải nghiệm qua cuộc sống của người dân trong hoàn cảnh đất nước loạn ly
bởi thiên tai, địch hoạ, bởi triều đình phong kiến nhà Trần thời mạt kỳ. Nhất
là, “từ cảnh ngộ một người bị đặt ở ngoài vòng chính sự, Nguyễn Phi Khanh có
dịp quan sát một cách vô tư thời cuộc diễn biến xung quanh ông, ông chợt nhận
ra muôn ngàn nỗi cực khổ đang vò xé người dân Việt ở giai đoạn cuối Trần”[13].
Trong bài Hồng Châu kiểm chính dĩ dư vận tác thuật hoài thi, kiến
phúc dùng kỳ vận dĩ tặng (Kiểm chính Hồng Châu dùng vần của tôi để làm bài
thơ Thuật hoài, sau khi đọc tôi lại
dùng vần ấy làm thơ tặng anh), ông nói tới cái bất công của xã hội, cái khốn
khổ của người dân, cái tình cảnh “người ăn không hết kẻ lần chẳng ra”, mà bản
thân mình cũng đành bất lực:
Vạn tính ngao ngao đãi bộ cầu
Thuỳ gia kim ngọc á cao khâu
Nhân tình gian hiểm quân phương cốc
Thế lộ phong đào ngã diệc châu
(Muôn họ nhao nhác chờ miếng cơm manh áo
Nhà ai đó vàng ngọc sánh đầy gò cao
Anh là cái bánh xe lăn trong sự gian hiểm của tình người
Tôi như con thuyền trong cơn sóng gió của đường đời)
Ông khao khát một nỗi cảm thông, chia sẻ của triều đình đối với người
dân. Trong bài Giáp tí hạ hạn, hữu sắc chư lộ đảo vũ, vị đảo nhi tiên vũ
(Mùa hạ năm Giáp tí (1384) hạn hán, vua có sắc cho các lộ cầu mưa, chưa cầu
trời đã mưa), trước cơn mưa hiếm hoi trong ngày hạn, ông bày giãi một tâm trạng
nửa phần như là hoan hỉ cho dân, nửa phần như là sự trách móc đối với triều đình:
Viêm viêm cửu
thổ chính tiêu tầm
Nhất vũ hoàng thiên phổ trạch thâm
Thỉnh tội quốc tương hành thịnh đảo
Sơ hoà dân dĩ thiếp hoan tâm
Ngoạ long tự thị nhân gian vật
Tiếu tương năng vi tuế hạn lâm
Tỉ thị bộc uông hà dụng giả
Chí thành cảm triệu cổ do câm
(Rừng rực đất đai khắp nơi đang khô cháy
Một trần mưa trời gieo khắp ơn sâu
Nhà nước đang chuẩn bị làm lễ thỉnh tội cầu mưa
Trời đã đem khí hoà, dân thấm nhuần niềm vui
Rồng nằm vốn là con vật của nhân gian
Tiếu tượng có thể hẹn mưa dầm trong tháng hạn
Chẳng cần
phải mang cái thân gầy còm ra làm lễ
Xưa nay chỉ
có lòng chí thành là cảm đến đất trời)
Có lẽ trong văn học thời kỳ Trần - Hồ, không có bài thơ nào bộc lộ một
cách trực tiếp thái độ thương cảm sâu sắc, xót xa đến gan ruột đối với nỗi khổ
của dân đen con đỏ trước cảnh hạn hán, mất mùa, đói khổ của người dân, cũng như
một tinh thần phê phán gay gắt, quyết liệt đối với những kẻ thống trị tàn bạo
bóc lột người dân như trong bài thơ Thôn cư cảm sự ký trình Băng Hồ tướng
công
(Ở quê cảm xúc trước sự việc
gửi trình tướng công Băng Hồ) của Nguyễn Phi Khanh:
Đạo huề thiên lý xích như thiêu
Điền
dã hưu ta ý bất liêu
Hậu thổ sơn hà phương địch địch
Hoàng
thiên vũ lộ chính thiều thiều
Lại tư võng cổ hồn đa kiệt
Dân mệnh cao chi bán dĩ tiêu
(Ruộng nương nghìn dặm đỏ như cháy
Đồng quê than van không biết trông cậy vào
đâu
Non sông của Hậu Thổ đang nứt nẻ
Mưa móc của Hoàng thiên hãy còn xa
Lưỡi tham quan lại vơ vét hết kiệt
Mỡ màng của dân đã cạn mất
nửa…)
Cũng khó có bài thơ nào trong
thời kỳ này bày tỏ lòng thương xót đối với nỗi thống khổ của “đồng bào” như trong
bài Thù Đạo Khê thái học xuân hàn vận (Đáp lại bài thơ “Cái rét
mùa xuân” của thái học Đạo Khê) của ông:
Liên cừ vạn tính giai ngô dữ
Tỵ ốc thuỳ gia diện diện hàn
(Xót thương trăm họ là đồng bào của ta
Dưới những mái nhà chen chúc mặt ai cũng rét buốt)
Nỗi đau đó ông không biết trông ai, nên đành phải kêu trời. Và khao
khát được ghé vai để “phò nghiêng đỡ lệch” càng cháy bỏng trong lòng ông. Trong
bài Trung thu cảm sự (Nhân tiết trung thu, cảm xúc trước sự việc), ông
viết:
Nguyện bằng thiên thượng thanh quang dạ
Biến chiếu nhân gian tật khổ sầu
Trường sử quốc gia đa hạ nhật
Ngũ hồ quy mộng đáo biên chu
(Xin nhờ cái đêm trong sáng ở trên trời kia
Soi thấu nỗi khổ của thế gian này
Mãi mãi làm cho nước có những ngày thanh bình
Thì giấc mộng về Năm Hồ mới đến được
chiếc thuyền con)
Nỗi đau buồn biễn thành uất ức, thành thái độ phê phán quyết liệt đối
với triều đình, với chế độ thối nát đương thời. Điều này thể hiện rõ trong bài Thu
nhật hiểu khởi hữu cảm (Ngày thu sáng dậy cảm xúc):
Ô hô thế đạo như hà ngã
Tam phủ di biên phú Đại đông
(Than ôi thế sự nên sao đặng
Thơ cũ ba lần đọc Đại đông)
Nhắc tới bài thơ Đại đông trong phần Tiểu
nhã của Kinh thi, thơ ông “có ý nghĩa chỉ trích thời loạn, để phê
phán những cảnh lục đục trong triều khiến cho đất nước không ổn định, mọi người
đau khổ nhưng khổ nhất vẫn là dân đen,
con đỏ”[14]. Đó là những bài thơ được
viết dưới thời Mạt Trần, viết
về tình cảnh của con người dưới triều đại đang suy thoái trầm trọng.
*
Nguyễn Phi Khanh là một nhà thơ tiêu biểu của thời kỳ Mạt Trần. Những bài thơ của ông không phải
chỉ là sự diễn tả tâm trạng kẻ sĩ trong buổi loạn ly một cách chung chung, mờ
nhạt. Thơ ông có thần tứ riêng, có giá trị riêng, và từ cái riêng ấy ông cất
lên tiếng nói, tâm trạng tiêu biểu của người trí thức phong kiến đương thời
trước thực tế xã hội, như một giai
điệu riêng trong dàn âm nhạc đày ai oán, não nề, căm phẫn, bi thương của lòng
người để tiễn đưa một triều đại thối nát
đi vào vương quốc của bóng tối./.
Nguyễn Phạm Hùng
(Đại học Quốc gia Hà Nội)
______________
Chú thích:
[1] Theo
Viện Văn học: Thơ văn Lý - Trần, T. III, NXB Khoa học xã hội, H. 1978,
tr. 380.
[2] Theo
Bùi Văn Nguyên: Lời giới thiệu. Thơ văn Nguyễn Phi Khanh, NXB Văn học,
H. 1981, tr. 5.
[3] Quốc
sử quán triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, T. II, NXB Khoa học xã hội,
H. 1971, tr. 212.
[4] Bùi
Văn Nguyên: Lời giới thiệu. Thơ văn Nguyễn Phi Khanh, NXB Văn học, H.
1981, tr. 23.
[5] Nguyễn
Huệ Chi: Từ điển văn học (Bộ mới), NXB Thế giới, H. 2004, tr. 1176.
[6] Đinh Gia Khánh: Văn học Việt Nam, thế kỷ X -
nửa đầu thế kỷ XVIII, T. I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.
1978, tr. 175.
[7] Nguyễn
Huệ Chi: Từ điển văn học (Bộ mới), Sđ d, tr. 1176.
[8] Theo Viện
Văn học: Thơ văn Lý - Trần, T. III, Sđd, tr. 490.
[9] Hữu
Bật, tên một bài thơ ở phần Lỗ tụng trong Kinh
thi, nội dung khen vua Hy Công nước Lỗ biết dùng lễ nghĩa hậu đãi bề tôi
nên bề tôi hết lòng trung với vua.
[10] Đức
ký, thiên Hiến vấn, phần Lỗ luận
trong sách Luận ngữ , ý nói: không khen cái sức của con ngựa ký mà
khen cái đức của nó.
[11] Vực
phốc, tên một bài thơ phần Đại nhã trong Kinh
thi, nội dung nói việc Chu Văn Vương biết sử dụng người hiền tài, cho họ địa
vị xứng với tài năng của họ, thì quốc gia phồn thịnh.
[12] Thanh
nga, tên bài thơ ở phần Tiểu nhã trong Kinh
thi, nội dung ca ngợi người làm vua biết tổ chức nền học vấn để đào tạo
nhân tài cho đất nước.
[13] Nguyễn
Huệ Chi: Từ điển văn học (Bộ mới), Sđ d, tr. 1176.
[14] Bùi
Văn Nguyên: Thơ văn Nguyễn Phi Khanh, Sđd, tr, 17.