
I. SỬ VĂN VỀ NHÀ HỒNG
BÀNG (2879-258 TTL):
Qua những bài dạy sử địa từ
cấp đồng ấu tiểu học của thế kỷ XX-XXI, sách giáo khoa chữ Việt mới (dựa trên
chữ cái Latin, tiêu biểu là cuốn bài giảng sử ký và địa dư dùng cho các lớp Dự
bị và Sơ đẳng bậc tiểu học của Trần Trọng Kim và Ðỗ Ðình Phúc xuất bản lần đầu
năm 1927) lịch sử Việt Nam khởi từ nhà Hồng Bàng (2879-258 Trước Tây Lịch [TTL]
kỷ nguyên), với mười tám [18] vua Hùng hay Hùng vương [Xiong wang]. Dù nội dung
những bài học sử địa trên rút ra từ quốc sử triều Lê (1428-1527, 1543-1789),
Tây Sơn (1778-1802) và Nguyễn (1802-1889, 1889-1945)–tức Ðại Việt Sử Ký Toàn
Thư (1697) của Ngô Sĩ Liên et al., Ðại Việt Sử Ký Tiền Biên
(1798-1800) của Ngô Thì Sĩ et al., và Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục
[CM], Tiền Biên [TB] (1884), Tự Ðức et al.– rất ít tác giả, kể cả Trần Trọng
Kim (1883-1952), dù thông thạo Hán và Pháp ngữ, được huấn luyện chuyên nghiệp,
như triết lý sử, phương pháp viết sử, phương pháp sưu tầm, lượng giá, cùng sử dụng
tài liệu một cách khoa học (như cách viết phụ chú, trích dẫn, v.. v...) Ngoài
ra, còn những chỉ thị riêng từ các Toàn quyền, Khâm sứ, quan tây lẫn quan ta về
thực thể “Ðông Pháp” [l’Indochine francaise] và công ơn “khai hoá” của
thực dân Pháp. Riêng về nhà Hồng Bàng, nhiệm vụ các giáo chức chỉ nhằm khiến học
sinh “học cho biết,” nhưng “không nên tin làm truyện thực.” (1)
A. CÁC VUA HỒNG BÀNG:
Lộc Tục, dòng dõi Thần
Nông [Shen Nung] hay Viêm Ðế, được truyền tụng là vua đầu họ Hồng Bàng, tức
Kinh Dương Vương. Lộc Tục sinh ra Lạc Long Quân (Sùng Lãm). Hùng Vương là con
trưởng Lạc Long Quân. Hùng Vương dựng nước tên Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu
(nay là Bạch Hạc).
Hồng Bàng thị thủ viết
Kinh Dương vương, tương truyền ngã Việt chi thủy [thỉ] quân dã. Sinh Lạc Long
Quân. [Hùng] vương nãi Lạc Long Quân chi tử dã].
Hùng Vương kiến quốc hiệu
Văn Lang, đô Phong Châu. (2)
Chữ Việt bộ Tẩu [ThC,
655-56]: vượt qua;
Chữ Lạc, bộ Mịch [ThC,
485]: quấn quanh, ràng buộc;
Chữ Hùng, bộ Chuy [ThC,
745], giống đực, hùng mạnh [CM, TB, I:1a, 2b (Sài Gòn: 1965), 2:8-9, 14-5; khác
chữ Hùng bộ Hỏa [ThC, 373-74: con gấu, dũng sĩ; chỉ các vua Sở];
Chữ Lang bộ “Ấp,” có nghĩa
chàng thanh niên, người chồng mới, ông quan trẻ.
1. Kinh Dương Vương:
Theo Ngô Sĩ Liên, [Nhâm
Tuất, năm thứ nhất] cháu ba đời Thần Nông là Ðế Minh tuần du phương nam tới Ngũ
Lĩnh, lấy Vụ Tiên (hay con gái Vụ Tiên), sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục có thánh đức,
Ðế Minh yêu quí, muốn chọn làm vua, nhưng Lộc Tục nhường ngôi cho anh [khác mẹ]
là Nghi. Ðế Minh bèn phong Nghi làm hoàng đế đất Bắc, Lộc Tục làm Kinh Dương Vương
cai trị phương nam, gọi nước là Xích Quỉ [Quỉ Ðỏ].
[Sơ Viêm đế Thần Nông thị
tam thế tôn Ðế Minh, nam tuần chi Ngũ Lĩnh, thú Vụ Tiên nữ, sinh tử Lộc Tục, hữu
thánh đức, Ðế Minh kỳ ái chi. Dục sử tự vị, Lộc Tục cố nhượng kỳ huynh Nghi. Ðế
Minh ư thị lập Ðế Nghi vi tự, trị bắc phương; phong Lộc Tục vi Kinh Dương Vương,
trị nam phương. . . (3)
Trong tinh thần “Bình Ngô
Ðại Cáo” của Lê Lợi, các sử quan đời Hậu Lê thượng cổ hóa thời huyền sử tới năm
2879 TTL. Người sáng lập nhà Hồng Bàng (2879-258 TTL), theo họ, cũng là dòng
giõi Thần Nông, “em” của các vua phương Bắc. (CM, TB 1:1; (Sài Gòn: 1965),
2:8-11, (Hà Nội: 1998), 1:71-2.
Người đọc sử Việt thường
ít chú ý đến vai “em” này của quốc tổ Việt (Lộc Tục)–vì trong lịch sử bang giao
hai nước, vua Trung Hoa tự xưng hoặc được cung văn là thánh nhân, con Trời
[thiên tử], làm chủ cả thiên hạ. Vương quyền biến thái từ “tối thượng”
[sovereignty] tới “bá chủ” [suzerainty] tùy theo sức mạnh quân sự của triều đại
cai trị Hoa lục. Khi hùng mạnh, vua Trung Hoa cho mình quyền thôn tính lân
bang, mở quận huyện, đặt vào bản đồ “Hoa hạ” hay “Trung nguyên.” Những đạo quân
viễn chinh Hán tộc vác trụ mốc biên giới trên vai, hay chuyên chở bằng chiến
thuyền, lừa ngựa tới các xứ hoang vực. Tiến trình quen thuộc là phá thành
[Tusha], giết lãnh đạo, nô lệ hóa và đồng hóa dân bản xứ. (Xem, chẳng hạn, cuộc
triệt hạ kinh thành Champa thế kỷ III và thế kỷ VII, hay thành Thăng Long dưới đời
Trần vào các năm 1258, 1285 và 1287-1288, đời Hồ năm 1406-1407. Hành động tội
ác chiến tranh này cũng tương tự như Ðặng Tiểu Bình ở Tibet, Hứa Thế Hữu và Dương
Ðắc Chí tại các tỉnh biên giới năm 1979. Một học giả Nhật đưa ra nhận xét người
Hán còn ăn thịt nạn nhân; và ngay Khổng Khâu cũng từng ăn thịt người.
[Consumption of human fresh was inevitable. Confucius apparently consumed human
fresh, too].
Chiến lược jianbi qingye
[bolt the fortress gates and clear the fields] Tusha: to take a city. After the
city is taken, to slaughter all the people in the city. Cannibalism: cultural
revolution.
Việt Nam là một thí
dụ tiêu biểu sách lược “thôn tính thiên hạ” của Trung Hoa. Hiện tượng quen thuộc
là chiến công vệ quốc ít khi là chiến thắng cuối cùng. Thực trạng địa lý-chính
trị Ðại Việt khiến không thể không duy trì liên hệ ngoại giao với phương Bắc,
trong khuôn khổ “luật kẻ mạnh.” Thứ trật tự chính trị đặc thù Á Ðông, qui tâm về
Bắc Kinh này, dĩ nhiên, khó thể bình đẳng hay cân xứng. Vua quan Hán ngang ngược
bắt vua chúa Việt phải chấp nhận thứ quan hệ “cha-con, giữ gìn nhau như môi với
răng” [“do tử dữ phụ mẫu chi tương thân,” “phụ tử chi quốc, thần xỉ chi bang”],
đánh nhẹ thì khoanh tay chịu tội, đánh mạnh thì bỏ chạy, “thuận trời thì sống,
nghịch trời thì diệt” [thuận thiên giả xương, nghịch thiên giả vong]. (Thư Trương
Lập Ðạo gửi Trần Nhân Tông năm 1291; ANCL, q. V, 1961:102-3. Xem thêm Truong
Buu Lam, “Intervention versus Tribute in Sino-Vietnam Relations, 1788-1790;” in
John King Fairbank, (ed) The Chinese World Order: Traditional Chinese Foreign
Relations (Cambridge, Mass: Harvard Univ Press, 1968), pp. 165-79; J. K.
Fairbank, “Tributary Trade and China’s Relations with the West;” Far Eastern
Quarterly, I (1942), 129-49; and, John K. Fairbank and Teng ssu-yu, “On the
Ch’ing Tributary System;” Harvard Journal of Asian Studies, VI (1941), tr.
135-246.
Sử quan Nguyễn bác việc Ðế
Minh du nam, cho rằng sử quan nhà Lê “chỉ dựa vào chỗ bâng quơ mà biên soạn ra
nhà Hồng Bàng, rồi e không có gì làm căn cứ cho người ta tin, lại phụ họa theo
truyện Liễu Nghị đời Ðường của nhà tiểu thuyết làm chứng cớ . . . .” Nhưng vẫn
“dĩ nghi truyền nghi;” chọn Hùng Vương làm đầu mối quốc thống, chép trong phần
Cương (chữ lớn), phụ chép Kinh Dương và Lạc Long ở phần Mục [chữ nhỏ, ghi chép
chi tiết] theo kiểu mẫu của Chu Hy (Zhu Xi, 1130-1200) trong Thông Giám Cương Mục.
(4)
2. LẠC LONG QUÂN:
Kinh Dương Vương [Lộc Tục]
lấy con gái Ðộng Ðình Quân Thần Long, sinh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân. Lạc
Long Quân lấy con gái Ðế Lai (con Ðế Nghi) là Âu Cơ, sinh một trăm con trai. Tục
truyền sinh 100 trứng. Ðó là tổ Bách Việt.
[Lạc Long Quân thú Âu Cơ
sinh bách nam, tục truyền sinh bách noãn, thị vi Bách Việt chi tổ].
[Việt bộ Mễ [ThC 474, nghĩa
là đến]; Lạc bộ Mịch [ThC 485]
[Chữ Việt trong Bách Việt
bộ “mễ,” Shiji, Ngô Khởi truyện, q. 2, tờ 36; có lẽ liên hệ tới trồng lúa, ăn gạo
[ThC 474];.
Chữ Chỉ bộ phụ, [ThC
743], nghĩa là nền.
Trạch: ThC 140 [nhà ở, nơi
ở, yên định], ThC 249 [chọn láng giềng], ThC 362 [chằm, đầm, chỗ đọng nước lớn]
Chi tiết này hơi khác với
huyền thoại, theo đó, sau khi lên ngôi, Lạc Long Quân rút xuống ở trong động ngầm
dưới nước. Mỗi khi dân cần gì đến vua, chỉ cần hô to “Bố đang ở đâu? Lại đây
giúp ta,” vua sẽ xuất hiện ngay. Một hôm, khổ sở vì giặc phương bắc quấy nhiễu,
dân gọi vua lên cứu giúp. Lúc ấy, Ðế Lai con Ðế Nghi đang đi tuần thú khắp nơi,
để người yêu là Âu Cơ trong hành cung. Thấy Âu Cơ, vua thích lắm, bèn gây duyên
chồng vợ. Âu Cơ sinh được 100 con trai; tục truyền là một cái bọc trăm trứng, nở
ra 100 con. (5)
3. HÙNG VƯƠNG:
Một hôm Lạc Long Quân bảo
Âu Cơ rằng, “Ta là giống rồng, nàng là giống Tiên, nước và lửa khắc nhau, khó
mà hợp nhau được.” Bèn từ biệt nàng, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo
cha xuống ở phương Nam.
Lạc Long Quân lập con trưởng làm vua tức Hùng Vương. Ðặt quốc hiệu là Văn Lang.
Ðóng đô ở Phong Châu, tương truyền được 18 đời, đều xưng là Hùng Vương.
Nhất nhật, Lạc Long Quân
vị Âu Cơ viết: “Ngã thị long loại, nễ thị tiên loại, thủy hỏa tương khắc, hợp
tinh vi nan.” Nãi dữ chi tương biệt, phân ngũ thập tử tùng mẫu qui sơn, ngũ thập
tử phùng phụ cư nam, suy kỳ trưởng vi Hùng vương tư quân vị, kiến quốc hiệu Văn
Lang quốc. Ðô Phong Châu, tương truyền thập bát thế, giai xưng Hùng Vương].”
(6)
Việc chia con, các truyền
thuyết cũng có chỗ dị biệt. Có bản nói người con cả trong số 50 người theo mẹ
lên núi Phong Sơn trở thành Hùng Vương thứ nhất; hoặc Hùng Vương thứ ba. (Kinh
Dương Vương là vua Hùng thứ nhất). Truyền bản sử nhà Lê thì sửa lại là người
con trai trưởng theo cha xuống miền nam lên làm vua. Có lẽ các nho gia Lê muốn
tôn xưng thuyết phụ hệ, tức dòng cha mới là chính theo văn hoá Trung Hoa; bác bỏ
phong tục mẫu hệ cũ còn áp dụng trong các xứ Mường.
Riêng kinh đô Phong Châu,
tức Núi Hùng, được ghi là Nghiã Lĩnh Sơn, thuộc làng Sơn Vi, Bạch Hạc, phủ Lâm
Thao, Phú Thọ. Hiện nay, Núi Hùng có ba đền: Hạ (Âu Cơ), Trung (vua Hùng), và
Thượng. Tại đây, có câu đối “Ðột ngột cao sơn cổ Việt Hùng thị thập bát thánh vương
vị.” Ngày Hội hàng năm cử hành ngày 10/3 âm lịch. (Năm 2005, tại đền Hạ, có
hình Hồ Chí Minh đến thăm đền trong chiến tranh Việt-Pháp).
Cần nhấn mạnh, nguyên bản
Ngoại Kỷ không còn lưu truyền. Nó được hay bị sử quan Hậu Lê hiệu đính, và viết
thêm [tục biên] liên tục cho tới khi Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư cùng các phần chép
thêm [tục biên] hoàn tất và khắc bản in cuối năm 1697 hoặc đầu 1698 [tháng 11
Ðinh Sửu, 13/12/1697-11/1/1698]. Tổng cộng trong 19 tập truyền
bản ÐVSKTT, ngoài quyển I phần Ngoại Kỷ nêu rõ do Ngô Sĩ Liên biên soạn, chỉ
còn 166 đoạn bình luận của NSL trích từ nguyên bản. (7)
Các truyền bản ÐVSK có
nhiều chi tiết khác biệt, và đôi lúc đối nghịch nhau. Truyền bản Cao Huy
Giu-Ðào Duy Anh (1967), hay Ngô Ðức Thọ et al. (2009) dịch không chép 18 đời
vua Hùng. Sử nhà Nguyễn nhiều lần nhắc đến 18 đời trong “sử cũ,” nhưng không
ghi từng đời vua. Hồ Tông Thốc, một nho gia/sử quan cuối đời Trần, (tác giả Việt
Sử Cương Mục, thế kỷ XIV), liệt kê đủ 18 vua Hùng trong Việt Nam Thế Chí. Hàng
năm, trong dịp Lễ Quốc Tổ [10/3 âm lịch] còn xuất hiện những tập sách nhỏ về 18
vua Hùng theo Hùng vương ngọc phả của Nguyễn Cố. Học giả Nhật Iwamura
Shigemitsu ghi trong An Nam Thông Sử [An Nan T’ung Chih] danh sách 18
vua Hùng, từ Kinh Dương Vương, và Hùng Hiền Vương, tức Lạc Long Quân, trở xuống.
16 vua Hùng còn lại là Hùng Quốc Vương, Hùng Hiệp Vương, Hùng Hy Vương, Hùng
Huy Vương, Hùng Chiêu Vương, Hùng Vĩ Vương, Hùng Ðịnh Vương, Hùng Vi Vương,
Hùng Trịnh Vương, Hùng Quì Vương, Hùng Việt Vương, Hùng Anh Vương, Hùng Triệu Vương,
Hùng Tạo Vương, Hùng Nhi Vương, Hùng Duệ Vương. Danh sách này cũng tìm thấy
trong Thành ngữ điển tích Danh Nhân tự điển, của Trịnh Văn Thanh. (8)
Theo sử Lê, năm 257 TTL
[Giáp Thìn], đời Hùng Vương cuối cùng, cháu Thục vương là Phán xâm lăng Văn
Lang. Hùng vương nhảy xuống giếng chết. Nước Văn Lang mất.
Giáp Thìn. Chu, Noãn Vương,
ngũ thập bát niên. Thục vương Phán lai xâm. Vương phó tỉnh tốt. Văn Lang quốc vong.
(9)
Sử Nguyễn bác việc Thục
Phán thuộc nước Ba Thục; nhưng đồng ý là Thục Phán tự xưng làm An Dương Vương
[An Yang wang]; đổi tên nước là Âu Lạc [Oulo], đóng đô tại Phong Khê.
Giáp Thìn. Thục, An Dương
Vương nguyên niên. Chu, Noãn Vương, ngũ thập bát niên. Thục Vương ký hữu Văn
Lang. Cải quốc hiệu viết Âu Lạc, đô Phong Khê.
Cựu sử [ÐVSK, NKTT,
I:5b]: Vương tính Thục, húy Phán, Ba Thục nhân dã. Thời vương ký tính Văn Lang,
nãi cải quốc hiệu viết Âu Lạc, đô Phong Khê. (10)
Âu [Ou] bộ Ngoã [ThC, 401, còn có nghĩa
cái âu, bồn chứa nhỏ]; Lạc [Lo], bộ Mịch [ThC, 485, nghĩa là quấn quanh,
ràng buộc, cái lưới, bao la, thứ quả cây]
Từ Kinh Dương Vương [2879
TTL], đồng thời với Ðế Nghi, truyền đến đời Hùng Vương cuối, chấm dứt năm Quí
Mão [258 TTL], tức là năm thứ 57 đời Chu Noãn Vương, nhà Hồng Bàng cai trị 2622
năm [âm lịch]. Trung bình mỗi vua cai trị trên dưới 120 năm tức hai thế kỷ nguyệt
lịch (60 năm). Ngô Thì Sĩ bác số tuổi trung bình trên, vì người chứ đâu phải
vàng đá. (11)
B. SỰ CỔ THỜI CỦA NƯỚC VIỆT:
Theo Ngô Sĩ Liên, cổ Việt
xuất hiện cùng thời Hoàng Ðế huyền thoại Trung Hoa. Ðời Nghiêu đế (Yao, 2357-2258 TTL), được
biết như Nam Giao (2352 TTL). Từ năm Tân Mão thứ sáu [1110 TTL] đời Chu Cơ Tụng
(Thành Vương, Zhou Zheng-wang, ca. 1115-1079 TTL) gọi là Việt Thường
[Yue-shang].
Theo Kinh Thư, Nghiêu từng
sai Hy Thúc xuống Nam Giao, nghiên cứu thiên văn và thực nghiệm công trình “đo
bóng mặt trời” để làm lịch, định rõ ngày Hạ chí (mồng 5 tháng 5 âm lịch, hay
21-22/6 Tây lịch, khi ngày dài nhất, đêm ngắn nhất ở bắc bán cầu; nhưng ngược lại
ở nam bán cầu). Những người chú giải kinh Thư đầu tiên–như Khổng An Quốc, cháu
xa đời Khổng Khâu [Kongzi, 551-479 TTL]–chú thích Nam Giao là phương nam. Nhưng
Tư Mã Trinh (Sima Zheng, thế kỷ VIII, đời Ðường), trong Sử Ký Sách Ẩn,
và Sái [Thái] Trầm hay Trừng, một chuyên viên Kinh Thư đời Tống (960-1279),
trong Thư Kinh Tập Truyện, làm những bước nhảy vọt địa lý, ghi “Nam
Giao là Giao Chỉ ở phương nam,” không đưa ra một chứng cớ nào.
Thư, Nghiêu điển: “Thân mệnh
Hy Thúc trạch Nam Giao, bình trật Nam ngoa, kính trí nhật vĩnh tinh hoà, dĩ
chính trọng Hạ, quyết dân nhân, điểu thú hy cách.” Thái thị: Nam Giao: Nam phương Giao Chỉ chi địa.” (12)
Tư Mã Thiên [Sima Qian,
145-86 TTL], tác giả Shiji [Sử Ký], chỉ chép “năm Tân Mão thứ sáu [1110
TTL ],” ở phía nam Giao Chỉ, sứ giả họ Việt Thường [Yueshang] sau hai ba
lần thông dịch tới được kinh đô ở đất Fang (Phong), Shensi (Thiểm Tây), cống một
chim trĩ trắng.
[6a] “Chu Thành vương tân
mão lục niên, Giao Chỉ nam hữu Việt Thường thị trùng [6b] lai tam dịch nhi lai
hiến bạch trĩ”].
Chữ Việt trong tên Việt
Thường có bộ “Tẩu,” nghĩa là “vượt qua.” Nó thường dùng để chỉ người Ư Việt (ở
Triết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến), Dương Việt (Giang Tây), Nam Việt (Quảng
Ðông). [Thiều Chửu, 655-656]. Chữ Việt bộ Tẩu còn xuất hiện trong quốc hiệu “Ðại
Cồ Việt” mà sử quan nhà Hậu Lê dùng cho nhà Ðinh (968-980), Cự Việt, Ðại Việt của
nhà Lý (1054), rồi Việt Nam do sử quan Nguyễn và Thanh (từ năm 1804 tới 1838,
và từ 1945 tới hiện tại).
Ðây cũng là lần đầu tiên
xuất hiện địa danh Giao Chỉ–chữ Giao [Jiao] bộ Ðầu nghĩa là gặp nhau [ThC, 12];
và Chỉ [Chih] bộ Phụ, cùng nghĩa với chữ chỉ bộ Thổ, có nghĩa cái nền. [ThC 12,
107, 743]. Trên thực địa, tên Giao Chỉ xuất hiện đời Hán Vũ Ðế (140-87 TTL) sau
khi Lộ Bác Ðức (Lu Pode) xâm chiếm Nan Yue [Nam Việt], “giết [tru] Lữ Gia, mở
chín quận” năm 111-110 TTL.
Chu Công Ðán, phụ chính của
Cơ Tụng đến năm 1104 TTL, cho rằng nước nào chính lệnh chưa đến thì quân tử
không bắt họ phải thần phục. Bèn cấp cho sứ Việt Thường năm [5] cỗ xe có vải
che, đều làm theo lối chỉ nam, để hồi hương. Ðoàn xe theo bờ biển tới Phù Nam [Funan], ngược
lên Lâm Ấp [Linyi], đi trọn một năm về đến nước. (13)
Cũng có thông tin huyền
thoại trên ghi trong Hàn Thi ngoại truyện: sứ Việt Thường trải qua chín
lớp thông ngôn mới tới cống hiến, Công [Ðán] hỏi vì duyên cớ gì mà đến, thì sứ đáp:
Trời không có gió bão, không có mưa dầm, biển không có sóng dữ, đã ba năm, chắc
là ở Trung Quốc có vị thánh nhân, nên tới chầu. (14)
Việc này không chép trong
Kinh Thư, mà chỉ được Phúc Thắng ghi trong Thượng Thư Ðại truyện. Sau được chép
lại trong Sử Ký [Shiji], [Tiền] Hán Thư [q. 12:2a, 95] của Ban Cố [Ban Gu,
32-92] và [Hậu] Hán Thư của Phạm Việp [Fan Yeh, 348-446], [q. 116, 5a].
Tưởng nên ghi thêm, không
chỉ có sử quan Việt tự nhận dòng giõi Việt Thường. Dân Sản Lỳ hay Sa Lý ở tây
nam Trung Hoa có truyền thuyết tổ tiên họ cống chim trĩ trắng đời Chu Cơ Tụng.
Dân Lão Qua [Ai Lao], và dân Miến Ðiện (Myanmar hiện nay, theo sách Ðiền Nam Tạp
Chí) cũng tự nhận là đất Việt Thường cũ. (15)
Chưa hài lòng với thời điểm
nhà Chu, các tác giả thời Ðường (Tang, 618-906) và Tống (Song, 960-1279)–như Trịnh
Tiều (1104-1162), trong Thông Chí, và Kim Lý Tường (1232-1303), Tống Nho đời
Nguyên (1260-1368) trong Thông Giám Tiền Biên–còn thêm vào lịch sử quan hệ Bắc-Nam
hơn một nghìn năm nữa: Năm 2352 TTL [Mậu Thân thứ 5] họ Việt Thường đã tới cống
Y Kỳ Phóng Huân, một con rùa sống trên ngàn tuổi. Trên lưng rùa có chữ giáp cốt,
và “Nghiêu” đã dùng chế ra lịch rùa. Ðời Thanh [Qing, 1644-1912], sách Ngự Phê
Thông Giám Tập Lãm (q. 1) còn chép lại việc cống rùa.
C. QUỐC HIỆU:
Thiên tiểu thuyết lịch sử
của Ngô Sĩ Liên và sử quan Lê còn khiến người đời sau khá nhức đầu về những quốc
hiệu sử dụng trong thời Hồng Bàng.
1. Xích Quỉ:
Xích quỉ nghĩa là “Quỉ Ðỏ”
[Red Demons]. Chẳng hiểu tại sao Ngô Sĩ Liên chọn quốc hiệu này cho Kinh Dương
Vương. Phải chăng hàm ý rằng phong tục, đời sống còn sơ khai, chưa được ánh
sáng lễ giáo nhà Chu và Khổng Khâu chiếu rọi,
khai hóa (Theo thuật ngữ xích tử chi tâm?) Linh mục/Giáo sư Kim Ðịnh đề nghị
nhìn lại cổ sử dưới góc cạnh của Viêm tộc (do hai chữ Hỏa ghép thành)–tức phát
minh ra lửa và dùng lửa để canh tác–nên Xích Quỉ có thể liên hệ đến quẻ Li (nghĩa
là lửa). Chữ Quỉ Ðỏ này còn có thể liên quan đến “Quỉ Môn Quan”–nơi mười người
qua, chín người không trở lại, hay nước “tiểu man di” Quỉ Phương trong Chu Dịch:
“Cao Tông nhà Ân phải cần ba năm mới thắng nước Quỉ Phương nhỏ bé” [Cao Tông phạt
Quỉ Phương, tam niên nhi khắc chi]. Ngô Thì Sĩ đề nghị nên gạch bỏ, vì “Xích Quỉ
là tên nào mà để làm tên nước.” (16)
2. Văn Lang [Wen Lang]:
Văn là tốt đẹp, sáng sủa,
và chữ Lang bộ Ấp [Thiều Chửu, 695-96], nghĩa là một chức quan, một quan còn trẻ,
tên gọi con trai các nhà cai trị cổ Việt [quan lang], và tiếng vợ gọi chồng
[lang quân]. Ðịa danh Văn Lang trên thực địa xuất hiện vào đời Tùy [581-618]-Ðường
[Tang, 618-906], ghi trong Thông Ðiển của Ðỗ Hữu/Hựu (Tu Yu, 735-812). Sau đó, được
sao chép lại trong Hoàn Vũ Ký của Nhạc Sử (Yo Shi, 930-1007) đời Tống:
Phong Châu là quận Thừa
Hóa, nước Văn Lang xưa [Phong Châu, Thừa Hoá quận, cổ Văn Lang quốc].
Lang bộ “Ấp.” (17)
Theo An Nam Chí Nguyên
[An Nan Zhi Yuan], của Cao Hùng Trưng [Gao Xiong-zhong], sử dụng tư liệu Minh
và Trần: Ðất Giao Chỉ lúc chưa chia ra quận huyện, [....] gọi là nước Văn Lang,
lấy việc thuần hậu chất phác làm phong tục, dùng giây thắt nút để cai trị, truyền
được 18 đời.”
[Giao Chỉ chi địa, vị hữu quận huyện thời,
[…] hiệu Văn Lang quốc, dĩ thuần phác vi tục, kết thằng vi trị, truyền thế thập
bát. (18)
Chữ “lang” còn nhiều cách
viết, với nghĩa khác nhau: Lang bộ Nữ [ThC 133]: Ngọc kinh lang hoàn: chỗ trời
chứa sách vở; Lang bộ Nghiêm [ThC 180] hành lang, mái hiên; Lang bộ Mộc [ThC
297] cây quang lang [Cây quang lang: củ mài, có bột giống như bột mì, làm bánh ăn
được; TKCS, ch. 37, “Diệp Du Hà,” Mão (2004), tr. 419]; cái gõ cá của ngư dân
[minh lang]; Lang bộ Mộc [ThC 308]: trong tân lang [cây cau]; quang lang [cây
quang lang]; Lang bộ Thủy [ThC 366]: chảy xiết; Lang bộ Khuyển [ThC 386]: chó
sói [như Văn Lang di dẫn trong Thủy Kinh Chú]; Lang bộ Ngọc [ThC 393]: Ngọc
lang can; Lâm lang: tiếng ngọc; Lang bộ Ngọc [ThC 399]: Lang bộ Hòa [ThC 448]:
Eo vực; Lang bộ Trùng [ThC 588, 597]: Khương lang [bọ hung]; Lang bộ Kim [ThC
714]: Lang đang: cái khóa, cái xích.
Mặc dù thư tịch Trung Hoa
về cổ Việt phong phú hơn từ thời điểm 111 TTL, năm Lưu Triệt (Hán Vũ Đế, 140-87
TTL) sai Lu Po-de [Lộ Bác Đức] và Yang Bu [Dương Bộc] diệt nước Nan Yue [Nam Việt]
của nhà Zhao [Triệu], nho gia Hán hoàn toàn im lặng về nhà Hồng Bàng, Hùng Vương
hay vương quốc Văn Lang. Ngay đến bộ Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu đời Trần,
hay An Nam Chí Lược của Lê Tắc—hoàn tất khoảng năm 1333-1336—đều im lặng.
Sách sử Trung Hoa trước đời
Tùy-Đường chỉ ghi bốn [4] tên đất và tên dân cổ Việt. Đó là Bách Việt [bộ
Mễ, ThC 474, nghĩa là “đến”], Việt Thường [bộ “Tẩu,” ThC, 655-56, nghĩa
là “vượt qua”], Nam Giao, và Giao Chỉ [giao, bộ đầu, ThC 12; chỉ
bộ phụ, cùng nghĩa với chữ chỉ bộ Thổ, ThC, 107, 743, cái nền].
Từ thế kỷ thứ IV-VI xuất
hiện trong cổ tích hay dã sử Trung Hoa những Hùng vương, Lạc hầu, Lạc tướng, Lạc
Việt, Văn Lang (Lang bộ khuyển), v.. v... Viết và đọc theo lối Việt Nho hay
quan thoại, những tên người và đất cổ Việt còn lưu truyền chỉ nhằm “dĩ nghi,
truyền nghi,” chờ hậu thế tìm hiểu thêm. Thí dụ như sự xuất hiện của giống “mọi”
Văn Lang ở huyện Chu Ngô quận Tượng Lâm, tức Nhật Nam. Dã sử Lâm Ấp Ký
(Lin-Yiji, đã tuyệt bản) chép phía nam huyện Chu Ngô quận Nhật Nam có tộc Văn
Lang di (Lang bộ khuyển, chó sói) sống ngoài đồng, không có nhà, ngủ trên cây, ăn
thịt cá sống, thu hái cây cỏ thơm làm nghề nghiệp, trao đổi với nhau như thời
thượng cổ. Thủy Kinh Chú của Lịch hay Lệ Ðạo Nguyên (466 [472]-527) (q. 36, tờ
24a) chép lại thông tin trên từ Lâm Ấp Ký, và thêm chi tiết người ta dùng tên Văn
Lang để gọi con sông ở gần đó [Văn Lang cứu]. Hoàn Vũ Kí (q. 171, tờ 7b), [2-3]
của Nhạc Sử đời Tống (960-1279) cũng chép tương tự. Nhưng khi trích dẫn Lâm Ấp
Ký về quận Nhật Nam, Lý Phưởng (Li Fang, 925-996) (tác giả Thái Bình Ngự Lãm,
q. 172, tờ 11b; TKC, ch 36, tờ 24a), lại chép dân Văn Lang di cư ngụ tại quận
Thương Ngô [ở lãnh thổ Dạ Lang cũ]– Sau khi chiếm Dạ Lang năm 111 TTL, Lưu Triệt
(Hán Vũ Ðế) đổi tên thành quận Kiến Vi, rồi tách làm hai quận Kiến Vi ở phía Bắc,
Thương Ngô ở phía Nam. Vấn nạn khó giải đáp là những tên người hay đất tại Cổ
Việt xuất xứ từ đâu? Do người Hán hay Việt đặt ra [invention], phiên âm
[phonetic transcription], hay chuyển dịch [translation]?
Những quan chức Hán đương
thời hiểu biết về phương nam cũng nói rất ít về cổ Việt–ngoại trừ An Dương Vương,
và Bách Việt nói chung.
Năm 135 TTL [Bính Ngọ],
khi Lưu Triệt muốn cử binh đánh Nam Việt [vì Nam Việt tấn công Mân Việt]. Lưu
An (Hoài Nam Vương) viết biểu lên Lưu Triệt như sau:
Việt ở ngoài [biên giới],
dân cắt tóc vẽ mình, không thể dùng pháp độ một nước đai mũ mà cai trị [Việt
phương ngoại chi địa, tiễn phát văn thân chi dân, bất khả dĩ quan đái chi quốc
pháp độ lý dã].
Việt không có thành
quách, làng xóm, chỉ ở trong khe suối, hang đá và rừng tre, từ xưa tập luyện thủy
chiến; đất đai ở sâu xa, tối tăm mà nhiều khe suối rất hiểm; sông núi cách trở
gay go, cây cối rậm rạp, lui tới khó khăn không kể xiết. Mới trông qua thì tưởng
dễ, mà muốn tới thì khó khăn. [Việt phi hữu thành quách ấp lý, xứ khê ốc chi
gian, hoàng trúc chi trung, tập ư thủy chiến, quán ư dụng châu, địa thâm muội
nhi đa thủy hiểm, sơn xuyên yếu tắc, hiểm trở lâm tùng, phất năng tận trứ, thị
chi nhược dị, hành chi thậm nan]. (Hán chí, Nghiêm Trợ truyện, dẫn trong
TKCS, ch 36: “Uất Thủy,” Mão (2004), tr. 364: ANCL, q. V, “Tiền triều thư
sớ;” 1961:107 [107-9, Hán Thư, Hoài Nam Vương]; ÐVSK, NKTT, II:9a-11a, Thọ
(2009), 1:171-73), Giu (1967), 1:79-80 [CM không nhắc gì đến Lưu An hay tờ biểu.
Ngô Thì Sĩ không chép lại thư. Chỉ nói Lưu An dâng sớ khi Lưu Triệt muốn
đánh Mân Việt, nhưng Triệt không nghe. ÐVSKTB, NK 12a, The (1997), tr. 61)
Ðất họ không thể ở được,
dân họ không thể chăn được, không bõ làm phiền đến [thiên triều]. Nay họ tự đánh
lẫn nhau, mà bệ hạ phát quân đến cứu, thế là lại đem [Trung Quốc?] mà phục dịch
Di Ðịch vậy.
Người Việt sức yếu, tài mọn,
không biết đánh bộ, lại không biết dùng xe ngựa, cung nỏ. Thế mà không thể đem
quân vào được vì họ giữ được đất hiểm mà người Trung Quốc thì không quen thủy
thổ. ÐVSK, NKTT, II:9a, Giu (1967), 1:79. [ÐVSKTB không ghi] Tôi lại nghe nước
Việt khác với Trung Quốc, trời đã hạn cho một dãy núi cao, xưa nay không ai bước
chân tới, xe ngựa không thông, hình như trời đất đã cách biệt trong ngoài vậy.”
(ANCL, q. V, “Tiền triều thư sớ,” 1961:108 [107-9]; TKCS, ch 36: “Uất Thủy,”
Mão (2004), tr. 364 [Ngũ Lĩnh phân cách trong ngoài]. ÐVSK, NKTT bỏ không chép.
Nhà Tần lại ham sừng tê,
ngà voi của đất Việt sai Ðồ Thư mang 50 binh chia làm 5 đạo, một đạo ở Dâm
Thành, ải Cửu Nghi, một đạo ở Phiên Ngung, một đạo ở Nam dã, một đạo ở sông Du
Can, Ba năm không cởi áp giáp. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống.
Quân Việt không chịu hàng, rút lên núi kháng cự. Bầu ra một quân chủ mới. Giết
chết Ðồ Thư. Quân Tần phơi thây mấy vạn người. [Doanh Chính bèn phái những người
đi đầy tới đóng đồn làm lính thú. Hán Thư, Hoài Nam Vương: [Lưu An can Vũ Ðế];
Hán chí, Nghiêm Trợ truyện, dẫn trong TKCS, ch 36: “Uất Thủy,” Mão (2004), tr.
364: ANCL, q. V: “Tiền triều thư sớ;” 1961:107 [107-9]; ÐVSK, NKTT, II:9a-11a,
Thọ (2009), 1:171-73), Giu (1967), 1:79-80, 315n27; [CM không nhắc gì đến Lưu
An hay tờ biểu. ÐVSKTB không chép lại thư]
[Theo Ngô Thì Sĩ, Lưu An
dâng sớ khi Lưu Triệt muốn đánh Mân Việt, nhưng Triệt không nghe. ÐVSKTB, The
(1997), tr. 61) Trong lời bình luận, chỉ chê loạn thần, tặc tử Dư Thiện giết
anh, giết vua là Vương Sính [Dĩnh] thì nghiêm khắc chê trách, phê bình việc Vũ
Ðế nhận cho Dư Thiện đầu hàng; Ibid., NK 12b, The (1997), tr. 61) Họ Ngô, vì một
lý do nào đó, không nói đến luật kẻ mạnh và tham tâm bành trướng, thôn tính
thiên hạ của Hán tộc. Dụng ý có lẽ còn kém Lê Trắc một bậc–Trắc cổ võ việc hiếu
hòa. Vì thế còn chép lại kế hoạch “dĩ man trị Man” của Lý Cố, hay biểu can Tống
Thái Tông của Ðiền Tích]
Sử Ký chỉ nói Tần sai
quan úy là Ðồ Thư qua đánh, người Việt trốn vào rừng núi, đánh không được, đóng
quân ở đám đất không, lâu ngày quân lính mệt mỏi, rồi người Việt ra đánh, quân
Tần đại bại, bèn đem các người đi đày qua để giữ gìn. (ANCL, q. V, “Tiền triều
thư sớ;” 1961:109) Sau đó sai Úy Ðà đem quân giữ đất Việt. Ðánh nhau suốt 10 năm.
Bắc Nam
đều thụ địch. Tiến không xong, thoái không được. Suốt 10 năm đàn ông không cởi
áo giáp, đàn bà vận chuyển cực khổ. Người ta treo cổ trên cây đối mặt nhau. Kịp
khi [Tần Thủy] Hoàng “băng,” cả thiên hạ nổi lên chống. ÐVSK, NKTT, II: Giu
(1967), 1:315n27..
Trong khi đó trong ngoài
rối loạn, dân sự rối ren, người đi không về, kẻ qua không trở lại, người người
không vui sống, đua nhau chạy trốn, đâm ra trộm cướp, gây thành mối họa ở Sơn
Ðông. Lão Tử nói: Hễ quân lính ở đâu, chông gai mọc ở đó. [Thử Lão Tử sở vị: “sư
chi sở xứ, kinh cức sinh yên” dã. (ANCL, q. V, “Tiền triều thư sớ,” 1961:108-9)
Xem chi tiết trong ANCL, q. IV: Tiền triều chinh thảo, 1961:91]
Chu Dịch nói: “Cao Tông
phạt Quỉ Phương, tam niên nhi khắc chi.” Quỉ Phương là “tiểu man di,” vua nhà
Ân phải cần ba năm mới thắng, nên có câu dụng binh không thể không coi trọng
[ngôn dụng binh bất khả bất trọng dã.” (ANCL, q. V, “Tiền triều thư sớ,”
1961:109)
Ngoài ra, suốt hơn nghìn
năm bang giao, vua quan Hán quyết không thừa nhận hoặc im lặng về việc vua quan
Việt tự nhận quyền kế thừa di sản của Bách Việt, hay Nam Việt của Triệu Ðà.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX, các tác giả Pháp bắt đầu tấn công vào thành trì quốc sử phong kiến Việt.
Tác giả được trích dẫn nhiều nhất là Henri Maspéro. Theo Maspéro, một chuyên
viên Hán học, Văn Lang là sản phẩm cuối cùng của một chuỗi sự lẫn lộn, hoang
mang [confusion] về địa lý cổ thời và sao chép sai lầm của văn gia Trung Hoa từ
đời Tang [Ðường, 618-906]; rồi, sử quan Việt đã chỉ chép lại những sai lầm đó.
(19) Sự sai lầm của địa lý gia Trung Hoa về lãnh thổ rộng lớn của cổ Việt là do
sự lẫn lộn [confusion] giữa hai tên Văn Lang và Dạ Lang. Hai chữ
Văn [ThCh 260, bộ Văn] và Dạ [ThC 14, bộ Ðầu] gần giống nhau, sai lầm có thể xảy
ra trong khi sao chép. Sách Thông Ðiển của Ðỗ Hữu/Hựu (735-812), đời Ðường chép
Phong Châu [Fengzhou] là tên xứ Văn Lang [Wen Lang] cũ [Lang bộ Ấp]–nhưng
tên Phong Châu chữ Hán này chỉ được đặt ra vào đời Tùy-Ðường (thế kỷ VI-VII).
Trong khi đó, Nguyên Hòa Quận Huyện Chí [Yuan ho kiun hien tche] (khoảng
806-820) lại ghi Phong Châu là đất Dạ Lang [Ye Lang] cũ [Lang bộ Ấp];
tương đương với huyện Tân Xương (giữa Quí Châu và Vân Nam hiện nay).
Rồi chú thêm, trong lãnh thổ huyện Tân Xương còn suối Dạ Lang. Từ đầu đời Hán, đã
thấy ghi hầu quốc Dạ Lang của người Miêu, lãnh thổ trải dài từ Quí Châu tới tây
Vân Nam hiện nay, đông giáp nước Ba, tây giáp hồ Vân Nam Phủ. Bởi vậy, Maspero ước
đoán rất có thể văn gia Ðường đã gán lãnh thổ Dạ Lang cho Văn Lang.
[Nguyên Hoà Quận Huyện Chí], q. 38, tờ 9b; Maspéro, “Van Lang,” 1918, 3:2]
Sai lầm thứ ba, theo
Maspéro, là do sự lẫn lộn về tên và đất của tộc Văn Lang di. Lâm Ấp Ký
(Lin-Yiji, đã tuyệt bản) nói ở phía nam huyện Chu Ngô quận Nhật Nam có tộc Văn
Lang di (Lang bộ khuyển, chó sói) sống ngoài đồng, không có nhà, ngủ trên cây, ăn
thịt cá sống. Thủy Kinh Chú (q. 36, tờ 24a) chép lại thông tin trên từ Lâm Ấp
Ký, và thêm chi tiết người ta dùng tên Văn Lang để gọi con sông ở gần đó [Văn
Lang cứu]. Hoàn Vũ Kí (q. 171, tờ 7b), [2-3] của Nhạc Sử cũng chép tương tự.
Nhưng khi trích dẫn Lâm Ấp Ký về quận Nhật Nam, Lý Phưởng (Li Fang, 925-996),
tác giả Thái Bình Ngự Lãm (q. 172, tờ 11b; TKC, ch 36, tờ 24a), đã chép sai chữ
Chu Ngô ở Nhật Nam thành Thương Ngô [ở lãnh thổ Dạ Lang (Sau
khi chiếm Dạ Lang năm 111 TTL, Lưu Triệt (Hán Vũ Ðế) đổi tên thành quận Kiến
Vi, rồi tách làm hai quận: Kiến Vi ở phía Bắc, Thương Ngô ở phía Nam). (20)
Trong khi chép lẫn lộn tên Văn Lang thành Dạ Lang, Lý Phưởng lại đặt Văn (tức Dạ)
Lang đúng vào đất Chu Ngô (q. 171, tờ 7b). Vì thế tên huyện Chu Ngô của Nhật
Nam, nơi có người Văn Lang di trong Lâm Ấp Kí, trở thành quận Thương Ngô của Dạ
Lang. (Thái Bình Ngự Lãm, q. 172, 11b, và Hoàn Vũ Kí, q. 170, tờ 10a). Khi đến
tay các nhà địa lý Ðường, sự lẫn lộn giữa Chu Ngô và Thương Ngô, cộng thêm với
sự lẫn lộn giữa Dạ Lang và Văn Lang từ Nguyên Hoà Quận Huyện Chí và Thông Ðiển,
đưa đến sự khai sinh tên Văn Lang, với chữ Lang bộ ấp: Phong Châu là [quận Thừa
Hoá] nước Văn Lang cũ.
Năm 282, Tấn bỏ đô úy Nhật
Nam.
Lấy
huyện Lô Dung làm Nhật Nam, lị sở tại huyện Tượng Lâm. TKCS, ch 36, Mão (2004),
tr. 366.
Chưa hết, các nhà địa lí
Ðường lại vi phạm thêm lầm lẫn thứ tư: Ðỗ Hữu [Hựu] và tác giả Nguyên Hòa quận
huyện chí, (k. 58, 9b; dẫn lại trong Thái Bình Ngự Lãm, k 172, 11b) đưa Văn
Lang và Phong Châu từ Hoa Nam xuống tới vùng Bạch Hạc và Việt Trì, Bắc Việt, nhưng
với chữ Lang bộ Ấp, thay vì Lang bộ khuyển [trong Hoàn Vũ Kí, (q. 171, tờ 7b)]
mới đúng. [3] (21)
Sẽ có người phản đối,
Maspéro tiếp, vì Nhạc Sử ghi trong Hoàn Vũ Kí, (q. 171, tờ 7b) rằng tại huyện
Tân Xương (tức nước Dạ Lang cũ) còn dấu tích Văn Lang thành–mà người Việt
cho là đền Hùng Vương danh tiếng tại làng Hy Cương, gần Việt Trì, huyện Sơn Vi,
Phú Thọ. Sự phản đối này có vẻ có sức nặng, dù trên thực tế đền Hùng chỉ dựng
lên khoảng đầu thế kỷ XV dưới thời Minh thuộc (1407-1428), được nhắc đến trong Giao
Chỉ Di Biên, Ðại Minh Nhất Thống Chí [q. 90, 5b] và Việt Kiệu Thư
[q. 1]. Trước đó, phụ đạo họ Lê cai trị huyện Sơn Vi, và thật đáng ngạc nhiên nếu
sự thờ phụng Quốc tổ [người Việt] được cử hành ở một xứ mọi rợ. [3-4]
“Phong Châu Thừa Hóa quận,
cổ Văn Lang quốc, tắc Phong Châu đương tức kim Sơn Tây chi Vĩnh Tường, Lâm Thao
chư phủ địa hạt. Hựu Sơn Vi huyện hữu Hùng vương sơn, Hùng vương miếu khả cứu,
bất khả chuyên chỉ Bạch Hạc dã.” (22)
Cũng vào dịp này, người
ta đã lập thêm ở Vũ Ninh Sơn đền thờ Triệu Quang Phục–mà theo Ngô Sĩ Liên, là một
vua đời Tiền Lý, hùng cứ Dạ Trạch sau khi Lý Bôn hay Bí chết–vì theo truyền
thuyết, Triệu Quang Phục đóng đô ở gần đó. [4] Tóm lại, theo Maspéro, lỗi không
ở các sử quan Việt, mà do sự lẫn lộn của tác giả Trung Hoa. Họ đã lầm lẫn biến
Văn Lang (Lang bộ khuyển) ở Chu Ngô (Tượng Lâm) thành Văn Lang bộ Ấp; rồi nhập
với tên Dạ Lang ở tây nam Trung Hoa, và cuối cùng, đưa thành Dạ Lang, dưới tên
Văn Lang, xuống đất Bạch Hạc-Việt Trì.
Lập luận Maspéro phiến diện,
thiếu khả năng thuyết phục:
1. Sử quan Việt hay Hoa
khó lẫn lộn Dạ Lang thành Văn Lang hoặc ngược lại. Hai chữ Văn và Dạ hay Lang bộ
khuyển [ThC 386], với Lang bộ Ấp [ThC 695] khác nhau khá xa.
Chính Maspéro cũng ghi nhận
Nhạc Sử (Yo Shi, 930-1007) chép trong Hoàn Vũ Kí, (k. 171, tờ 10a) cả hai địa
danh Thương Ngô và Chu Ngô, cũng như hai chữ Văn Lang (bộ Ấp và bộ Khuyển).
[3n2] Nhưng Maspéro tảng lờ chi tiết này. Sự lẫn lộn, nếu có, của văn gia Hán
là sự lầm lẫn cố ý.
2. Giả thuyết chép lầm cũng
khó thuyết phục vì văn gia Hán hiểu rõ sự ngoắt ngoéo của Hán tự hơn Maspéro đánh
giá. Những lầm lẫn, nếu có, chỉ ở những trường hợp thông thường. Thí dụ như đoạn
nói về cuộc dấy binh kháng Hán của Trưng Vương trong truyền bản An Nam Chí Lược
của Lê Tắc, có người muốn đọc hiểu chữ “công duyên quận ấp”
thành “công trị quận ấp.” Lý do đưa ra là chữ
“duyên” bộ Thủy [ThC 338, trong truyền bản An Nam Chí Lược nghĩa là ven, lân cận
như duyên hải, duyên thủy], tương tự với chữ “Trì,” còn có âm khác là “Trị,” cũng
bộ Thủy [ThC, 337, nghĩa là (1) sửa, (2) trừng trị, (3) sửa trị, (4) chỗ quan
hành chính địa phương đặt trị sở, (5) tên xưng hô hay tên gọi quan trấn thủ [trị
hạ]. Nhưng nếu “công duyên” khó hiểu, và chép sai, “công trị” vô nghĩa, chẳng
những khó thuyết phục về cách dùng chữ, mà còn không phù hợp với đoạn văn của
Lê Tắc: Không ai nói “đánh trừng trị các quận ấp.” Thói quen ham muốn “hiệu
đính” cổ thư này khiến những truyền bản cổ thư đầy “chú” với “tiên” chỉ khiến
người đọc lạc đường, và thiếu tính chất khả tín, trong các nghiên cứu nghiêm
túc. Thủy Kinh Chú Sớ là một thí dụ tiêu biểu. Một nạn nhân khác là Dư
Ðịa Chí của Nguyễn Trãi.
Hơn nữa, sự lầm lẫn hay bất
nhất, nếu có, về Văn Lang với Dạ Lang ở đây có thể ít nhiều liên hệ đến tham vọng
nam tiến, khiến văn gia Trung Hoa dời dần những biên giới ngày một xa, rộng hơn.
Trường hợp Tượng Quận đời Tần, và trụ đồng Mã Viện là thí dụ tiêu biểu. (23)
3. Sản phẩm chung cuộc của
giả thuyết tam tứ sao thất bản Maspéro muốn đưa ra là quốc hiệu Văn Lang, nếu
viết đúng, phải là Văn Lang với chữ Lang bộ khuyển. Người Việt đủ thông minh và
kinh nghiệm để hiểu sự mọi rợ văn hóa của văn gia nước lớn, tức thích gọi bất cứ
người ngoại quốc nào là mọi rợ, man di, trâu bò, chó, lợn. Giống như những từ
Tây nhung [bộ qua, ThC 219], Bắc địch [bộ khuyển, ThC 384], Nam man [bộ Trùng,
ThC 597], Ðông di do Khổng Khâu hay những người mạo danh Khổng chia đặt cho các
sắc dân chung quanh Trung Hoa. Kiến thức giới hạn của Khổng Khâu và 72 người hiền
về địa lý, nhân chủng, hay dân tộc học này đã tạo nên ảo tưởng về sự tối cao
[supremacy] của chủng tộc và văn hoá Hán, khiến “Bạch quỉ” và “Tây dương di” đua
nhau xâu xé vật hoá thạch còn sống [a living fossil] suốt thế kỷ XIX, trương
lên những bảng “Cấm chó và người Tần [Chinese]” tại công viên các nhượng địa.
Bởi thế mới có những thuật
ngữ “Chinoiserie,” “Chinese-ness,” hay “đạo Nho” để chỉ những kẻ thích nói
nhân, nghĩa, nhưng việc làm từ nhỏ đến lớn chỉ nhằm lợi nhuận–giống như lời
phán của Triệu Quang Nghĩa (Song Taizong, 976-997) về việc thừa nhận và chế
phong cho Lê Hoàn (980-1005), hay Triệu Hằng (Song Zhenzong, 997-1022) khi thừa
nhận Lý Công Uẩn (1009-1028). (24) Khoảng một ngàn năm sau, Ðặng Tiểu Bình cũng
lập lại hầu như nguyên văn qua tuyên bố bất hủ, “mèo trắng hay mèo đen không
quan hệ, chỉ cần bắt được chuột.”
4. Là học giả thời cực thịnh
của phong trào thực dân trung cổ Tây phương [Pháp], Maspéro và người đương thời
mang mặc cảm tự tôn [cultural supremacy]–dù ý thức hay không–chấp nhận một định
đề tiên thiên là sứ mệnh khai hóa của các nước “văn minh,” hay có sức mạnh vượt
trội các dân tộc khác. Không duyệt nghĩ đến yếu tố tự tôn, tàn ác và tham lam của
những người tự cho mình sứ mệnh khai hóa–tức tiêu diệt mọi dấu tích nạn nhân của
hành động thực dân, xâm lăng, hoặc xuyên tạc, sỉ nhục những nước yếu nạn nhân.
Dưới thời Nhật đô hộ (1941-1945), học trò Việt từ bắc chí nam được Pháp truyền
dạy bài học sử “Tổ tiên chúng ta người Gaulois [Gô-Loa].” Năm 1879, Petrus Trương
Vĩnh Ký ghi vào tập bài giảng lịch sử cho các trường Nam Kỳ lòng tri ân người
khai hóa và chủ Pháp mới. Năm 1944, sau khi vừa được Winston Churchill và
Franklin D. Roosevelt giúp giải phóng nước Pháp khỏi ách cai trị Nazi Germany,
“Charles vĩ đại” lập tức mưu tái chiếm Ðông Dương, hợm hĩnh tuyên bố quyết đưa
con thuyền lạc bến trở lại với mẫu quốc. Linh mục/Cao ủy Georges Thierry
d’Argenlieu, thủ hạ thân tín của Charles de Gaulle, vận dụng mọi mưu mẹo thâm độc
để tái chiếm Ðông Dương với đủ thứ bảng hiệu–từ Tuyên ngôn 24/3/1945 tới mật lệnh
của de Gaulle–biến Ðông Dương thành một chiến trường nóng của cuộc chiến tranh
lạnh 1947-1991, với kết quả chung cuộc là sau chín [9] năm máu lửa phải quị lụy
xin Mao Nhuận Chi cùng Nikita S. Khrushchev cho rút quân trong danh dự–khởi đầu
cuộc sụp đổ của đế quốc Pháp bằng Hội nghị Geneva 1954 và chiến dịch Ðiện Biên
Phủ (1953-1954) do Mao Nhuận Chi, Chu Ân Lai và Quân Ủy Trung Ương dàn cảnh hầu
bước lên hàng ngũ cường quốc.
Không tự kiềm chế Luật Kẻ
Mạnh, Maspéro khiến nghiên cứu khá công phu chỉ đưa đến kết luận khẳng định,
phiến diện.
5. Có lẽ vì mục tiêu chiến
tranh chính trị, Maspéro còn tảng lờ mọi bằng chứng ngược lại với sự cả đoan của
mình, coi cổ thư Trung Hoa là khuôn vàng, thước ngọc, mà quên mất lời khuyên của
Mạnh Kha: “Tận tín thư bất như vô thư.” Ngay chính Ngô Sĩ Liên rồi Nguyễn Nghiễm
đã cảnh giác độc giả rằng “tin sách chẳng bằng không có sách.” Từ cuối thế kỷ
20, đầu thế kỷ 21, các nhà sử học và khảo cổ thế giới cũng bắt đầu phát động
phong trào tìm hiểu giai đoạn tiền Roma, trả lại sự thực lịch sử cho Trung Ðông
cùng con người Jesus Christ lịch sử.
6. Hơn nữa, Ngô Sĩ Liên
và sử quan Lê không phải là người đầu tiên hay cuối cùng tô son, điểm phấn cho
dĩ vãng dân tộc mình, như trong những tài liệu tuyên truyền được gán ghép danh
hiệu quốc sử. Sử quan Việt cũng không là những người duy nhất dùng huyền thoại
viết sử–họ là học trò ngoan ngoãn của sử gia Trung Hoa, bậc thày trong việc lưu
truyền đủ loại thông tin thần rắn quỉ trâu. Tự hào thông kim, bác cổ sử văn
Hán, nhưng Maspéro chẳng nhắc gì đến việc văn gia Hán tộc huyễn truyền về Ngũ đế,
Tam vương, hay Bàn Cổ lập ra trời đất. Maspéro nghĩ gì khi có người yêu cầu từ
bỏ niềm tin như “đấng Tạo Vật” hóa phép ra toàn vũ trụ trong sáu [6] ngày, hay
thứ thiên đường đầy rẫy Mẹ Ðồng Trinh cùng những thiên thần thập tự quân hai
tay đẫm máu người Jews, Arabs và ngoại đạo? Hay địa ngục với đủ loại quỉ nhập
tràng, phải dùng “thánh giá” đâm suốt qua trái tim mới ngăn cản được chúng trở
lại nhân thế? Maspero sẽ trả lời ra sao nếu có câu tra vấn về dung mạo Thượng Ðế
hay Adam và Eva–mũi lõ mắt xanh, hay mũi tẹt, tóc quăn, da đen, vàng, nâu hay đỏ?
Dù có sự khác biệt về chi tiết và cường độ huyền thoại, do sự khác biệt vũ trụ
quan, nhưng bản chất tuyên truyền là hằng số. Có thể Maspéro chưa đủ kiến thức
bàn về những thánh lệnh [papal bulls] phân chia thế giới không Ki-tô cho
Portugal và Espania trong thế kỷ XV, nhưng Maspéro hẳn từng biết thủ cấp người
Việt yêu nước (như Hoàng Hoa Thám và cận vệ tại Nhã Nam, Thái Nguyên; hay các
lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Ðảng ở Yên Bái) bị phơi treo nhiều ngày trước các chợ
búa? Các lãnh đạo chế độ Cộng Sản nghĩ gì khi được nhắc nhở rằng “cộng đồng
nguyên thủy” [primordial community] của Karl Marx và Angels chưa
bao giờ được nghiệm chứng? Và, ít người đặt ra với Marx cùng đệ tử như
Mao Nhuận Chi hay Hồ Chí Minh câu hỏi then chốt: Dựa trên bằng chứng
[evidence] nào để bàn về cộng đồng công hữu nguyên thủy? Hay, nhân danh
thứ công lý gì để lập những “tòa án nhân dân” hầu tiêu diệt phong kiến, địa chủ,
phản động, phản cách mạng, vừa ăn cướp, vừa đánh trống–chẳng cách biệt gì với
những phiên tòa dị giáo [Inquisitions] ở Tây phương thời Trung Cổ? Ðó là chưa
nhắc đến tên “Cộng Sản” [gongshan] mà những người tự nhận Marxist
đầu tiên của Trung Hoa trong Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư đã dịch một
cách sai lầm từ thuật ngữ “communism.”
Sự hiện hữu của nước Văn
Lang, bởi thế, vẫn là nghi án lịch sử muôn đời. Và Hùng Vương, mà không phải Lạc
Vương, sẽ tiếp tục được tôn xưng như quốc tổ người Việt. Cho tới khi xuất hiện
những tài liệu rõ ràng, có tính cách thuyết phục khoa học.
Quốc hiệu Văn Lang còn được
ghi trong dã sử [Ðại] Việt Sử Lược, không rõ tên tác giả–Sử Hy Nhan?, theo Trần
Bá Chí– xuất hiện khoảng cuối đời Trần, trước nhà Hậu Lê: đời Chu Cơ Ðà [Trang
vương, 696-682 TTL], ở bộ Gia Ninh (Bắc Ninh ngày nay) có người lạ dùng ảo thuật
thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang. Việt Vương
Câu Tiễn (505-462 TTL) cho người tới dụ hàng nhưng Hùng Vương không theo. Như thế,
Hùng Vương không mở dòng quốc thống của Văn Lang từ các vua thần thoại Trung
Hoa mà Tự Ðức và sử quan Nguyễn miệt thị gọi là “Ma Trâu, Thần Rắn” [Ngưu quỉ,
xà thần]. (25)
Tuy nhiên, tác giả không
hề trưng dẫn xuất xứ thông tin của mình, nên Việt Sử Lược không có giá trị sử học
cao hơn các huyền thoại để khai triển thành một dã sử tiểu thuyết mới, dựa trên
tư liệu khảo cổ.
D. LÃNH THỔ:
Vương quốc Văn Lang rất rộng;
đông giáp Nam hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Ðộng Ðình, nam giáp nước Hồ Tôn
tức Chiêm Thành. Trong Dư Ðịa chí dâng lên Lê Thái Tông (1433-1442) năm 1435,
chép theo kiểu thiên Vũ Cống trong Kinh Thư, [còn gọi là An Nam Vũ Cống], Nguyễn
Trãi (1380-1442) viết:
“Nước ta mới mở, gồm có
sông núi, phía đông giáp biển, phía tây đến nước Thục, phía nam đến Chiêm
Thành, phía bắc đến hồ Ðộng Ðình.”
Nguyễn Thiên Túng chú
thích: Thục là tên nước, bây giờ là tỉnh Vân Nam. Chiêm Thành ngày xưa là nước
Hồ Tôn. Ðộng Ðình Hồ là tên hồ, ở về đất nước Sở, chu vi tám trăm dậm. Trong hồ
có hai ngọn núi. Tại núi Quân Sơn có đền thờ Tương Quân, con gái vua Nghiêu (vợ
Thuấn).
Trên thực địa, Ba Thục,
theo sử quan Nguyễn, có lẽ là hai quận Ba và Thục nay thuộc Tứ Xuyên [Xichuan],
tây nam Trung Hoa. Ðộng Ðình hồ nằm sâu trong tỉnh Hồ Nam [Hunan]. Ðây có thể
là địa bàn Bách Việt [Po Yue] trước khi người Hán xâm lấn miền nam sông Dương Tử
[Trường Giang], cướp đoạt tài sản, tàn sát dân bản xứ, xua đuổi một số chạy về
phương nam (Nùng, Thái, Mèo [H’Mong], v.. v..), đồng hóa những người còn lại.
Sông Dương Tử được coi như ranh giới tự nhiên của Trung Hoa và Bách Việt–cũng đường
ranh của hai nền nông nghiệp lúa mì và lúa thóc. (26)
Hùng Vương chia nước làm
15 bộ. Có hai [2] danh sách khác nhau: Lĩnh Nam Trích Quái, và Dư địa chí của
Nguyễn Trãi. Sử Lê dựa theo danh sách của Nguyễn Trãi: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ
Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Ðịnh, Hoài
Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Ðức, và Văn Lang, là nơi Hùng Vương đóng
đô.
Phụ Bản II:
Văn Lang: 15 Bộ
1. Giao Chỉ [Jiao Chih]: Chỉ bộ Phụ; tức Sơn Nam
(Hà Nội, Nam Ðịnh và Hưng Yên) Nguyễn Trãi et al.; Dư Ðịa Chí, số 3; Nguyễn
Trãi Toàn Tập [NTTT], in lần thứ hai (Hà Nội: KHXH, 1976), tr. 212 [211-46];
ÐNNTC, q. XIII: Hà Nội (1997), 3:184 [159-236] [Tần: Tượng Quận; Hán, Giao Chỉ;
Ngô: Tân Hưng; Tấn-Tề: Tân Xương; Tùy: Phong Châu; Ðường, Phong Châu đô đốc phủ,
đạo Lĩnh Nam], 217, 234 [183-264]; q. XV: Hưng Yên (1997), 3:286 [285-320] [Sơn
Nam thượng; Sơn Nam hạ, Hán: huyện Chu Diên]; q. XVI: Nam Ðịnh, (1997), 3:322
[321-372] [bộ Lục Hải đời Hùng Vương; Trần, Thiên Trường]
Năm 971, một người họ Lưu
được cử làm Thái sư đô hộ phủ [châu Giao] VSL, q. 1, 17a;
2. Chu [Châu] Diên: Sơn
Tây [ÐNNTC,
q. XXI: Sơn Tây, (1997), 4:184 [Tần: Tượng Quận; Hán, Giao Chỉ; Ngô: Tân Hưng;
Tấn-Tề: Tân Xương; Tùy: Phong Châu; Ðường, Phong Châu đô đốc phủ, đạo Lĩnh
Nam], 217, 234 [183-264].
3. Phúc Lộc: Sơn Tây, [thành lập năm 663
[Nguyên Hòa quận huyện chí, q. 38, tờ 4a] hay 670 [Hoàn vũ kí, q. 171, tờ 11b];
Maspéro, “Van Lang,”1918, 3:4]
4. Vũ Ninh: Kinh Bắc (Bắc Ninh) [ÐNNTC, q.
XIX: Bắc Ninh, (1997), 4:54 [53-152]: Tiền Lê: Bắc Giang, Lý, Gia Lâm; Trần, Bắc
Giang; thuộc Minh: Bắc Giang và Lạng Giang. [theo Tống thư, lập nên năm 271; q.
38, tờ 20a; dẫn trong Maspéro, “Van Lang,”1918, 3:4] Nơi có Loa Thành của An Dương
Vương. [ÐNNTC, q. XIX: Bắc Ninh, (1997), 4:57 [huyện Ðông Ngàn; cũ là châu Cổ
Lãm, Lê Hoàn gọi là Cổ Pháp; Lý là Thiên Ðức; tây giáp huyện Yên Lãng, Sơn Tây;
Ðông giáp Tiên Du; nam giáp Tiên Du, bắc tới Yên Phong], 91 [thành Cổ Loa thuộc
Ðông Ngàn 92 [thành Xương Giang, xã Thọ Xương, huyện Bảo Lộc; thành Thị Cầu,
huyện Vũ Giàng], 93-4 [giếng cổ Minh Châu] [53-152]:
Trường (990: Tống Cảo đi
sứ; Tống thư, q. 448, tờ 2b; ANCL, q. III, 9b; 1010: đổi làm Trường Yên phủ],
Ái [989: Chàm tấn công;
Lê Hoàn đi đánh; 1006: lại đi đánh; 1011: Lý Thái Tổ lại đi đánh],
5. Việt Thường: Từ Thuận
Hóa tới Quảng Nam.
6. Ninh Hải: An Bang (Quảng Ninh). [quận đời Lương
[thế kỷ VI, Hoàn Vũ Kí, q. 171, tờ 9b]; huyện năm 752; Hoàn Vũ Kí, q. 171, tờ
11a] dẫn trong Maspéro, “Van Lang,”1918, 3:4] ÐNNTC, q. XVIII: Quảng Yên
(1997), 4:6-7 [5-52] [bộ Ninh Hải đời Hùng Vương; Triều Dương; Lý Thái Tổ: Tĩnh
Yên, Lê Thánh Tông: An Bang hay Yên Bang]; 8 [Dư Ðịa Chí số 25 của Nguyễn Trãi:
“Vân Cừ, Phân Mao, duy An Bang.” (1976:225-26], 8-9 [1542: Mạc Ðăng Dung cắt đất
cho nhà Minh. Lê sử: 1 châu, 6 động; Khâm Châu Chí: 1 châu 4 động]; 25-27 [sông
Bạch Ðằng] Dư Ðịa Chí số 26 [Vân Ðồn, 1976:226, 599-600]
7. Dương Tuyền: Hải Dương. [ÐNNTC, q. XVII: Hải Dương,
(1997), 3:374 [373-466] [Thang Tuyền; Tần: Tượng Quận; Hán, Giao Chỉ; Trần: Hồng
lộ; sau là Hải Ðông; Hồng Châu và Nam Sách], 396-97 [núi Côn Sơn, đông bắc Chí
Linh 21 lí], 401 [sông Lục Ðầu, sông Hàm Giang], 407 [sông Bạch Ðằng],
8. Lục Hải: Lạng Sơn, [ÐNNTC, q. XXIV: Lạng Sơn
(1997), 4:365 [365-400]
9. Vũ Ðịnh: Thái Nguyên, [ÐNNTC, q. XX: Thái
Nguyên (1997), 4:153 [153-82], Cao Bằng [huyện, 271; bỏ đời Trần; Maspéro, “Van
Lang,”1918, 3:5] [ÐNNTC, q. XXV: Cao Bằng (1997), 4:401 [401-30]
10. Hoài Hoan: Nghệ An. Huyện năm 743; Maspéro,
“Van Lang,”1918, 3:5]
11. Cửu Chân: Thanh Hóa.
12. Bình Văn: [khuyết], Maspéro, “Van
Lang,”1918, 3:5]
13. Tân Hưng: Hưng Hóa và
Tuyên Quang. [theo Tống thư, lập nên năm 271; q. 38, tờ 21; dẫn trong Maspéro,
“Van Lang,”1918, 3:5] [ÐNNTC, q. XXII: Hưng Hoá (1997), 4:265 [265-332]; q.
XXII: Tuyên Quang (1997), 4:333 [333-64]
14. Cửu Ðức: [khuyết]. [Theo Tấn Chí của Phòng
Huyền Linh (578-648) Cửu Ðức do nhà Ngô đặt ra, nay là đất Hà Tĩnh]. Hồ Tôn là
nước Chiêm Thành, nay là Bình Dịnh. [theo Tống sử, lập nên thế kỷ III; q. 38, tờ
21; dẫn trong Maspéro, “Van Lang,”1918, 3:5]
15. Văn Lang. Nơi có kinh đô Phong
Châu
Phong [990, vùng kinh đô của
vua Lê?), [ÐNNTC, q. XXI: Sơn Tây, (1997), 4:184 [183-264] [Tần: Tượng Quận;
Hán, Giao Chỉ; Ngô: Tân Hưng; Tấn-Tề: Tân Xương; Tùy: Phong Châu; Ðường, Phong
Châu đô đốc phủ, đạo Lĩnh Nam], 217, 234 [183-264].
Huyện Phong Châu có món
nhậu vượn biết nói tiếng người. (Thủy Kinh Chú sớ [TKCS], ch 37, “Diệp Du Hà,”
Mão (2004), tr. 428-29)
Mặc dù khó phủ nhận việc
Hán tộc không ngừng xâm lược lân bang, giết lãnh tụ, nô dịch hóa dân chúng qua
khuôn thước “thánh giáo”, và đất đai cổ Việt mất vào Trung Hoa không nhỏ, địa
danh 15 bộ gây nhiều nghi hoặc trong giới Nho gia Việt. Thứ nhất, các địa danh
trên đều là chữ Hán. Thêm nữa, chúng trùng hợp với tên các châu, huyện thời Bắc
thuộc hay Ðại Việt (Giao Chỉ, Chu Diên, An Nam) trước thế kỷ XV hay XVI, không
phù hợp với lãnh thổ quá rộng lớn của vương quốc Văn Lang trong truyền thuyết.
Bảng Nhãn Lê Quí Ðôn nghĩ rằng “Không có chữ nghĩa gì truyền lại, tên quận huyện
do nhà Hán, nhà Ngô đặt ra,” “các hậu nho góp nhặt, vay mượn chép ra, khó mà
tin được.” (28) Ðó cũng là nhận định của sử quan Nguyễn. Sau khi tham khảo
Thiên Hạ Quận Quốc Lợi Bệnh Thư của Cố Viêm Vũ (1613-1692) và các sách khác, kể
cả Ðại Thanh Nhất Thống Chí của Từ Kiền [Càn] Học (1631-1694), Tự Ðức than lên:
“Không khảo cứu được,” làm sao biết biên cương Văn Lang đến đâu. (29)
Các sách địa lý TH đều mô
tả chung chung là “An Nam phía Ðông đến biển, phía Tây đến Vân Nam, Lão Qua,
phía Nam đến Chiêm Thành, Bắc đến Quảng Tây.” “An Nam” là quốc hiệu chính thức đầu
tiên nhà Tống đã phong cho Lý Anh Tông (năm 1164, hoặc 1175). Tư Mã Thiên, người
đầu tiên nhắc đến sứ giả Việt Thường, thì chứng tỏ biết rất ít về địa lý cổ thời
Ðông Nam Á. Tác giả cho đoàn xe đưa sứ Việt Thường có kim chỉ nam hướng dẫn đi
men theo bờ biển, tới Fu nan [Phù Nam], rồi Lâm Ấp, gần một năm mới về tới quê
nhà. Nhưng Phù Nam chỉ thành lập vào khoảng năm 100, tức hai thế kỷ sau ngày
Tư Mã Thiên hoàn tất Sử Ký hay Ban Cố hiệu đính xong sách của cha.
Phù Nam nằm về phía nam
Lâm Ấp. Kim chỉ nam của Chu Công Ðán rõ ràng có vấn đề về định hướng bắc-nam;
hoặc việc cống trĩ trắng chỉ là một trò chơi trí tuệ của những Phúc Thắng, Tư
Mã Thiên tới đời sau. Giống như môn khoa học đo bóng mặt trời “phát minh” từ thời
Nghiêu–vì Nam Giao hay Giao Chỉ được khẳng định ở phía nam chỗ mặt trời mọc. Và
cũng rất có thể Tư Mã Thiên không hề biết đến, hay viết ra địa danh Phù Nam; nó
chỉ là sản phẩm của văn gia Hán tộc đời sau, khi chú giải Sử Ký và Hán Thư.
(Hai sứ đoàn do Thứ sử Giao Châu là Lữ Ðại (ca 226-256) gửi đi Phù Nam từ Giao
Chỉ hay Giao Châu, do Khang Thái [Kang Tai] và Chu Ứng [Chu Ying], cầm đầu xảy
ra vào thế kỷ thứ III Tây Lịch (226). (Tuy nhiên, nguyên bản Phù Nam Ký, Phù
Nam Truyện, Phù Nam Thổ Tục, hay Fu-nan I-wu Chih và Fu-nan I-nan Chi] đã thất
lạc, chỉ còn trích dẫn trong Thủy Kinh Chú, Thái bình Ngự Lãm, Nghệ vân loại tự,
Shih Chi Cheng-i, v.. v ..) Những Nhan Sư Cố, Lê Hiển, Tư Mã Trinh, hay Ðỗ Hữu/Hựu
đời Ðường mới nỗ lực viết lại cổ sử Trung Hoa cho phù hợp với kiến thức địa lý
mới do các thương nhân mang đến hay những đạo quân viễn chinh mang về, từ đời
Tam Quốc tới đời Lương-Tùy. Ngay đến những kinh điển Khổng giáo hay Lão-Trang cũng
được chép lại, chia câu, ngắt đoạn, chú thích, diễn nghĩa–và, dĩ nhiên, bịa đặt
thêm (như thiên Thu Thủy trong Nam Hoa Kinh của Trang Châu).
Tư liệu khảo cổ học giúp
khẳng định Phù Nam và Óc Eo (An Giang)–có dấu vết ở Thoại Sơn-An Giang–là hai
trung tâm thương mại lớn ở Ðông Nam Á trong những năm đầu thiên kỷ thứ nhất Tây
lịch. Sau này, Phù Nam bị dân Cát Miệt [Khmer] cướp phá, đặt vào bản đồ
Kambojas (được biết trong sách sử Trung Hoa và Việt Nam như Chenla [Chân Lạp]).
Dân Cát Miệt cũng từng trao đổi những cuộc tàn phá và cướp bóc với Chiêm Thành
và Xiêm La Hộc từ thế kỷ XII-XIV.
Văn hóa Ðồng Nai: đồ đồng,
tương đương Ðông Sơn, Sa Huỳnh
Văn Hóa Cần Giờ (Giồng Cá
Vồ, 328 di cốt trong mộ chum, 64 phân định được tuổi [khoảng 500 TTL] Diệm et
al., 2007:111.), Giồng Phệt
Vấn đề đặt ra là thực chăng
Phù Nam hay Óc Eo (An Giang)–và Sa Huỳnh, (Quảng Ngãi)–đã trở thành quốc gia,
hay đây chỉ là nơi hải tặc tập trung trao đổi những món đồ cướp bóc được của
các thuyền buôn đủ quốc tịch. Singapura (Singapore), chẳng hạn, từng có tên “đảo
hải tặc” trước khi được tiểu vương [sultan] Malaya bán cho công ty Ðông Ấn của
Bri-tên [British East India Company], trụ sở ở India vào đầu thế kỷ XIX.
Huyện Phong Châu có món
nhậu vượn biết nói tiếng người. (Thủy Kinh Chú sớ [TKCS], ch 37, “Diệp Du Hà,”
Mão (2004), tr. 428-29)
Ðáng ghi nhận là thói
quen sửa chữa hay thêm vào truyền bản cổ thư của người đời sau khiến giá trị của
Dư Ðịa Chí là những dấu hỏi lớn. Thí dụ như Dư Ðịa Chí số 2, nói Kinh Dương Vương
có đức của bậc thánh nhân, được phong sang “Việt Nam” . . . NTTT, (Hà Nội:
1976), tr. 211; Dư Ðịa Chí số 13 ghi trong sách chương [văn kiện ngoại giao] của
Bắc triều lúc gọi nước ta là Việt Nam [Ðế Minh phong Kinh Dương Vương làm Việt
Nam Vương], Nam Việt, Giao Chỉ, An Nam, Nam Bình; nay cũng gọi là Việt Nam;
NTTT, (Hà Nội: 1976), tr. 216; Nhưng quốc hiệu Việt Nam chỉ được Ngung Diễm tức
Gia Khánh [Jiaqing] nhà Thanh (Qing) thừa nhận từ năm 1804. Trong chế phong Gia
Long làm Việt Nam Quốc Vương, Ngung Diễm giải thích rõ chữ Việt do tên Việt Thường,
hiếu cống đã lâu, không phải nước Nam Việt của Triệu Ðà bị xâm lược năm 111
TTL, hay các xứ Việt trong lãnh thổ Lưỡng Quảng. (29)
Những trang sách ngắn ngủi
về nhà Hồng Bàng cũng chỉ ghi vắn tắt về tục xâm mình để tránh thủy quái làm hại,
anh hùng Thánh Gióng phá giặc xâm lược Bắc phương, cuộc nội chiến tranh hùng giữa
Sơn Tinh-Thủy Tinh, đưa đến những cơn bão lụt hàng năm. Tuy nhiên, sử quan
không nhắc gì đến tục ăn trầu, nhuộm răng đen, cắt tóc ngắn. Du khách lịch lãm
nói: “Miếng trầu là đầu câu chuyện.” Trong chuyến đi sứ Hoa Lư cuối thế kỷ X, sứ
nhà Tống nhắc đến việc Lê Hoàn mời ăn trầu. Nhưng cũng có người không dấu sự
châm biếm: “Môn tiền thiếu nữ nha như thán; Lộ thượng hành nhân khẩu tựa dương”
[Gái tơ trước cửa răng như mực; Trên đường khách bộ miệng tựa dê].( 30)
E. QUỐC SỬ HÓA HUYỀN THOẠI:
Trên cơ bản đoạn sử về
nhà Hồng Bàng Ngô Sĩ Liên chính thức đưa vào Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư gần giống
huyền thoại “Mo đẻ con, đẻ nước,” cùng những thần tích và cổ tích trong Lĩnh
Nam Chích Quái (1377?) của Trần Thế Pháp, do Vũ Quỳnh hiệu đính (1492), như
truyện Hồng Bàng thị, Phù Ðổng thiên vương (Uy Vũ miếu), Chử Ðồng Tử, Sơn
Tinh-Thủy Tinh, Bạch Trĩ, Rùa Vàng, v.. v.. Ngoài ra, có thể lấy thêm một số
chi tiết trong Việt Ðiện U Linh (ca 1329) của Lý Tế Xuyên, ghi chép về các vị
thần miếu, thần sông, thần đất, v.. v..... Hai bộ bách khoa tự điển của Lê Quí
Ðôn (Văn [Vân] Ðài Luận Ngữ) và Phan Huy Chú (Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí) đã
giới thiệu tóm lược các tác phẩm trên. Một số học giả Pháp, như Henri Maspéro
và Emile Gaspardone, cũng bỏ công so sánh các truyện tích giống với phần Ngoại
Kỷ của ÐVSKTT. (31)
Chính Ngô Sĩ Liên cũng
nhìn nhận Ngoại Kỷ có nhiều điều quái dị, nhưng vẫn chép lại vì tin rằng vĩ
nhân thời tiền sử “khác với người thường.” (32) Ngô Sĩ Liên et al. còn dùng cơ
cấu tổ chức xã hội Mường như Quan Lang (con trai vua), Mị Nương (con gái vua),
Bố Chính, Phụ Ðạo để mô tả chính quyền của vua Hùng, (33) tới cuộc chiến thắng
trên sông Bạch Ðằng của Ngô Quyền cuối năm 938 hoặc đầu năm 939. Phần thứ hai,
Bản Kỷ, mười [10] tập, chép từ nhà “Tiền” Ngô (939-944) tới ngày 3/1/1428, khi
Vương Thông rời Ðông Quan (Hà Nội ngày nay) mang quân về nước. Năm 1511, khi nhận lệnh Lê Tương Dực (1510-1516) soạn bộ Ðại Việt Thông
Giám Thông Khảo, sử quan Vũ Quỳnh (1452-1516) chọn Ðinh Tiên Hoàng (968-979)
thay họ Ngô nối dòng đại quốc thống [da guozheng] từ Hùng Vương, và được sử
quan đời sau, kể cả những “Hán nhân” như Tự Ðức, Phan Thanh Giản đồng ý. Trên cơ bản Ngô Sĩ Liên
và Vũ Quỳnh dựa theo hai tập Ðại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu (1272), đời Trần
(1226-1400), và Phan Phu Tiên (1455) đời Lê Nhân Tông (1443-1459).
Nói chung, quốc sử Việt
Nam từ đời Nguyễn trở về trước phảng phất không khí huyền thoại [legendary], thờ
kính tiền nhân [ancestor worship] và bái vật [animism]. Sử quan Việt chỉ bắt chước
các “tiên Nho” thỉnh thoảng chen các hiện tượng bất thường như nhật thực, nguyệt
thực, động đất–thường không thể kiểm chứng–cùng huyền thoại vào lịch sử để lấp đầy
chỗ thiếu sử liệu, hoặc với dụng tâm phục vụ mục tiêu chính trị/quân sự giai đoạn–nhất
là thuyết Trời-Người Tương Cảm của Ðổng Trọng Thư. Mặc dù Khổng Khâu từng tuyên
bố “Kính quỉ thần như viễn chi” [kính quỉ thần nên ở xa], Kinh Thư, một trong
ngũ kinh của Khổng Giáo, hay các bộ chính sử Trung Hoa vẫn đầy rẫy yếu tố quái
lạ, huyền hoặc. Bàn Cổ, Ngũ đế, hay Tam vương đều là sản phẩm của trí tưởng tượng
các Nho gia đời sau. Thần Nông (Shen Nung), Nghiêu (Yao), Thuấn (Yun) là di sản
một thời bái vật, mê tín về một cõi vô hình cùng hiện hữu với nhân loại. Nghiêu
[Yao], chẳng hạn, là sản phẩm của cuộc “cảm ứng” giữa Rồng Ðỏ và vợ Ðế Cốc ở một
bờ suối, góc rừng, triền núi. Tiền bán thế kỷ XIX, khi chu trình toàn cầu hóa đã
khởi sự qua những chuyến thám hiểm vòng quanh địa cầu và truyền đạo Ki-tô từ Âu
Châu, Minh Mạng (1820-1841) còn bắt chước Trung Hoa đúc chín cái đỉnh ghi tên
các thần núi, thần sông, đặt tại sân chầu. Sử quan Nguyễn khi thuật lại chiến
công của Nguyễn Hoàng vào tháng 8-9/1572 [tháng 7 Nhâm Thân, 8/8-6/9/1572] trên
sông Ái Tử, ghi nữ thần sông Qua Qua [“Trao trao”] phu nhân bày kế dùng mỹ
nhân, giả đầu hàng, phục binh, giết được tướng Mạc Lập Bạo, rồi lập đền thờ nữ
thần ở Cồn Tiên, gần Cửa Tùng. Ngày 23/5/1744, chín ngày sau khi đúc ấn An Nam
Quốc Vương (14/5/1744), Võ vương Nguyễn Phước Khoát (1714-1765) tự lên ngôi
vua, hứa sẽ “Dìu giắt thiên hạ đến cõi thái bình, mong thấy cảnh Thành Chu-Ngu
Thuấn.” Hơn một thế kỷ sau, tự thoả mãn tâm nguyện “chín đời báo thù mới là đại
nghĩa,” trước khi lên ngôi hoàng đế, Gia Long (1802-1820) vời nho thần Phạm Ðăng
Hưng vào cung để thuyết trình về đường lối “vô vi nhi trị” của Nghiêu Thuấn. Năm
1435, Lê Thái Tông (1433-1442) cũng muốn được Nguyễn Trãi dìu giắt lên hàng
Nghiêu Thuấn, với kết quả chung cuộc là thảm án Trại Vải (Gia Ðịnh, Bắc Ninh),
ngày 7/9/1442 [4/8 Nhâm Tuất] khiến người khởi xướng phong trào “Tân Khổng
Giáo” [Neo-Confucianism]–chuyển tiếp từ quân phiệt chuyên chế sang quân chủ văn
trị–bị tru di ba họ, bi phẫn nhắn lại với hai thái giám Ðinh Thắng và Ðinh Phúc
là đã lầm lẫn, không theo lời khuyên của họ. (34)
II. HÙNG VƯƠNG V/S LẠC VƯƠNG:
Một thời gian, có cuộc
tranh luận khá gay gắt về hai tiếng “Hùng Vương [Xiongwang]” và “Lạc Vương
[Lowang].” Một số người cho rằng vua quan Hậu Lê đặt ra quốc tổ Hùng Vương, nhưng
“sách sử Trung Hoa” ghi rõ ràng là “Lạc điền, Lạc dân,” vậy vua đầu tiên phải
là Lạc Vương mới đúng. Khi Ngô Sĩ Liên chú thích trong một ngoặc đơn là Lạc tướng
chép sai thành Hùng tướng, những người chỉ trích khẳng quyết rằng ngay đến tên
Hùng Vương cũng đã chép sai. Nhiều người còn đòi thay tổ tiên dân Việt thành Lạc
Việt.
Henri Maspéro, một chuyên
viên Hán học Pháp, cũng có mặt trong nhóm “Không có vua Hùng, chỉ có vua Lạc”
này. Lập luận “sao chép sai”–từ Lạc (bộ Chuy [TC: 746]: sông Lạc) thành Hùng (bộ
chuy [TC 745]: con đực, hùng mạnh)–lại được sử dụng. (Maspéro, “Van Lang,”1918,
3:7, 8-9)
A. HÙNG VƯƠNG
[Xiongwang]:
Như đã lược nhắc, quốc sử
Lê chép trong phần Ngoại Kỷ: Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu, nay là huyện Bạch
Hạc. Chữ Hùng bộ Chuy [có nghĩa giống đực, hùng mạnh]. Vua Tự Ðức và sử quan
Nguyễn như Phan Thanh Giản, Phạm Thận Duật đều đặt nghi vấn về Hùng Vương–mà
“Hán nhân” Tự Ðức từng hạ bút phê là “ngưu quỉ, xà thần”–nhưng vì “đại quốc thống”
chép vào phần Tiền Biên [TB] bộ quốc sử Nguyễn–và bắt đầu Chính Biên [CB] từ
Ðinh Tiên Hoàng (968-979). Trong số những cổ thư đề cập đến Hùng Vương có Hoàn
vũ ký [q. 170, tờ 9a, 10a]. của Yo Shi (Nhạc Sử) đời Tống, Thủy
Kinh Chú [Shui Jing chu] ([TKC] của Li Dao Yuan (Lịch (Lệ) Ðạo Nguyên, 466
[472]-527) et al. [TKC, ch 37, 7a; Thủy Kinh Chú Sớ, ch 37; Mão (2004), tr.
427-28 [An Dương Vương])]; Sử Ký Sách Ẩn của Tư Mã Trinh (tk VII-VIII).
1. Thực tế, Nhạc Sử chỉ
trích dẫn chi tiết “Hùng vương, hùng hầu, hùng tướng, hùng dân, hùng điền”
[Hùng bộ Chuy; ThC, 745] từ Nam Việt Chí [Nan-Yue zhih] của Thẩm Hoài Viễn
[Chen Huai Yuan], (thế kỷ V):
Ðất Giao Chỉ rất màu mỡ,
người ta di dân đến ở, chính họ là người đầu tiên khai khẩn đất này. Ðất đen và
xổi, hơi xông lên mùi hùng. Vì vậy người ta gọi ruộng đó là hùng điền, dân đó
là hùng dân. [vua nước đó gọi là Hùng Vương]. . .
Phong Châu là quận Thừa
Hóa, nước Văn Lang xưa. (35)
(Tuy nhiên, Thủy Kinh Chú, còn dẫn một đoạn văn tương
tự ghi là “Lạc Vương” [con ngựa đen], từ Giao Châu Ngoại Vực Ký.
2. Trịnh Hùng đời Ðường
ghi trong Phiên Ngung tạp ký: Ðất Giao Chỉ nhiều màu mỡ. Xưa có vua là Hùng Vương;
tướng văn là Hùng hầu, tướng võ là Hùng tướng. (36)
3. Hoàng Sâm [Tham] đời
Minh (1368-1644) ghi trong Giao Quảng Ký [một sách địa lý về Giao Châu và Quảng
Châu]: vua nước Giao Chỉ là “Hùng vương.” Chữ “Hùng” này bộ Chuy; ThC 745; khác
với chữ “Hùng” [bộ Hỏa [con gấu, dũng sĩ; ThC 373-74] trong Sử Ký Tư Mã Thiên để
nói về các vua Sở. Ngô Sĩ Liên cũng dẫn sách Giao Quảng Ký trên.
Tuy nhiên, Hoàng Sâm lại
chép:
“Giao Chỉ có ruộng Lạc,
làm mùa theo nước thủy triều lên xuống; người hưởng hoa lợi của ruộng đó gọi là
Lạc hầu, các huyện tự xưng là Lạc tướng. [Về sau, con Thục vương đem binh đánh
Lạc hầu, tự xưng là An Dương vương, đặt trụ sở ở Phong Khê.]”
“Giao Chỉ hữu lạc điền [Lạc
bộ mã], ngưỡng triều thủy thượng hạ, nhân thực kỳ điền, danh vị Lạc hầu, chư
huyện tự danh Lạc tướng; hậu Thục vương tử tướng binh thảo Lạc hầu, tự xưng An
Dương vương, trị Phong Khê.” (37)
Một tác giả Việt nghĩ rằng
Hùng vương cùng Lạc tướng, Lạc hầu hay Lạc điền không loại trừ lẫn nhau. Vua của
Lạc dân, Lạc tướng, Lạc hầu vẫn có thể mang tước hiệu Hùng Vương.
4. Một truyền bản Việt Sử
Lược cũng nhắc đến Hùng Vương–nhưng Hùng Vương này xuất hiện ở bộ Gia Ninh;
dùng ảo thuật thu phục được các bộ lạc. Ða số sử quan CSVN thừa nhận vua Hùng
này. Các nhà khảo cổ cũng dùng tư liệu trên làm khung cho việc diễn dịch những
công trình “Lật đất lên, bốn ngàn năm lịch sử.” Bởi vậy, sự hiện hữu của Hùng vương
rút lại còn đâu đó từ thế kỷ 12, 11 tới 600 TTL. (38)
B. LẠC VƯƠNG [LOWANG]:
Nhiều dã sử Trung Hoa
dùng Lạc điền, Lạc dân, Lạc hầu, Lạc tướng để tả cổ Việt.
1. Chữ Lạc [Lo] thực ra
có hai âm: “Hạc” và “Mạch.” Nho gia Việt thích đọc là Lạc.
Có ít nhất 11 cách viết
khác nhau.
Lạc [Lo]: bộ Mã [lạc đà;
Thiều Chửu, 780]
Lạc: bộ Khẩu [89]: khạc
ra máu.
Lạc: bộ Thủy [342]: sông
Lạc
Lạc: bộ Thủy [365]: sông
Lạc. Còn đọc là bạc [cái hồ, đầm: Lương Sơn bạc]
Lạc: bộ Hỏa [370]: Áp lửa,
là [ủi]
Lạc: bộ Trảo [383]: Loài
trâu có nhiều sắc loang lổ. [bác lạc]; rành rọt [lạc lạc]; xuất sắc [trác lạc,
lỗi lạc]
Lạc: bộ Ngọc [392]: chuỗi,
xâu ngọc
Lạc: bộ Mịch [485]: quẩn
quanh, quay xe; quay tơ [lạc tị]; ràng buộc [liên lạc]; màng lưới, khuôn vây,
bao la; quả quít [quất lạc]. Lạc Long Quân: bộ Mịch (CMTB, I:1a, (Sài Gòn:
1965), 1:8; Lạc Việt: bộ Mịch (CMTB, I:1a, 23a (Sài Gòn: 1965), 1:8, 96;
Lạc: bộ Thảo [561]: rụng,
lá rụng, hoa rụng. Lạc đệ thi;
Lạc: bộ Dậu [701]: cạo sửa,
sữa bò, sữa ngựa [miền Bắc TH].
Lạc: bộ Chuy [746]: sông
Lạc
2. Cố Hy Phùng đời Lương
(502-557), ghi trong Dư Ðịa chí:
“Thời nhà Chu (1122-256
TTL) nước Giao Chỉ gọi là Lạc Việt, thời nhà Tần (221-207 TTL) gọi là Tây Âu
[Ou xi]; thế thì nước Tây Âu Lạc nằm về phía tây Phiên Ngô [một huyện thuộc Quảng
Ðông hiện nay].” (39)
3 Thủy Kinh Chú của
Lệ [Lịch] Ðạo Nguyên et al., dẫn
Giao Châu ngoại vực kí (thế kỷ IV, tuyệt bản), chép Lạc vương, Lạc Tướng, Lạc điền,
Lạc dân [chữ Lạc bộ mã, con ngựa đen], mà không phải Hùng Vương [mạnh] như Thẩm
Hoài Viễn. (40)
4. Nhan Sư Cổ (581-645),
làm việc dưới triều Lý Uyên (Ðường Thái Tổ, 618-626) và Lý Thế Dân (Thái Tông,
627-647)–thường chú giải ngũ kinh và Hán Thư của Ban Cố, lừng danh kim cổ với
thứ kiến thức “cách vật trí chi”: “Nhật Nam là nói về phía nam mặt trời; là bảo
mở cửa phía bắc để hướng về [đón ánh] mặt trời”–ghi chú “Tây Âu tức Lạc Việt;
Tây Âu Lạc Việt chi nhất, ngôn kỳ dịch thuộc Nam Việt dã.” [Tây Âu tức là Lạc
Việt, Tây Âu và Lạc Việt là một, ý nói Tây Âu lệ thuộc và phục dịch nước Nam Việt
[của nhà Triệu]. (41)
5. Tư Mã Trinh [Sima
Zheng, thế kỷ VII-VIII], trong Sử Ký Sách Ẩn, dẫn Quảng Châu Ký, ghi Lạc vương
[bộ Mã= con ngựa đen]. (42)
6. Tăng Cổn, đô hộ đời Ðường,
tiết độ sứ Tĩnh Hải Quân (tức cổ Việt) từ 878 tới 880, ghi trong Việt chí hay
Giao Châu Kí [đã tuyệt bản]: Giao Chỉ có lạc điền, theo nước thủy triều lên xuống.
Truyền bản An Nam Chí Lược [ANCL] của Lê Tắc cũng chép theo Tăng Cổn, với chú
thích: “Lạc tức Giao Chỉ.” Dư Ðịa Chí của Nguyễn Trãi chép: Thục gọi nước là Âu
Lạc, đóng đô ở Phong Khê. Ngô Thì Sĩ ghép Tây Âu và Lạc thành một nước “Tây Âu
Lạc.” [theo thuyết của Nhan Sư Cổ]. (43)
7. Cao Hùng Trưng [Gao
Xiong-zhong], (Giáo thụ phủ Tư Minh, Quảng Tây, gần Lạng Sơn đời Khang Hi
(Kangxi, 1662-1722), tác giả An Nam Chí Nguyên [An Nan Zhi Yuan] [sử dụng tư liệu
Minh và Trần] cũng ghi khi Giao Chỉ chưa bị vua quan Hán chia ra quận huyện, gọi
là “nước Văn Lang,” có Lạc điền, Lạc dân, Lạc Vương, Lạc tướng, lấy việc thuần
hậu chất phác làm phong tục, dùng giây thắt nút để cai trị, truyền được 18 đời.”
[Giao Chỉ chi địa, vị hữu
quận huyện thời, [hữu Lạc điền, tùy triều thượng hạ; khẩn kỳ điền giả vi Lạc
dân, thống kỳ dân giả vi Lạc Vương, phó nhị giả vi Lạc tướng, giai đồng ấn
thanh thụ,] hiệu Văn Lang quốc, dĩ thuần phác vi tục, kết thằng vi trị, truyền
thế thập bát. (44)
8. Ðầu thế kỷ XX, phe
nghiêng về thuyết Lạc Vương được sự tăng cường của vài học giả ngoại quốc, kể cả
Henri Maspéro. Maspéro khẳng quyết không có vua Hùng, chỉ có vua Lạc. Theo
Maspéro, Nhạc Sử (Hoàn Vũ Kí) đã dẫn tên Hùng vương từ Nam Việt Chí của Thẩm
Hoài Viễn [bộ Chuy, ThC 745, chim trống, giống đực, hùng mạnh]; Lịch Ðạo Nguyên
(Thủy Kinh Chú), theo Giao Châu ngoại vực kí, ghi Lạc vương [bộ Chuy, ThC 746,
sông Lạc]. Một trong hai cổ thư trên chép sai, vì hai chữ Hùng và Lạc dễ lẫn lộn
với nhau. May thay, một bộ cổ thư khác, Quảng Châu Ký, ghi Lạc vương [bộ Mã].
Như thế, chữ đúng là Lạc vương, cần bỏ chữ Hùng Vương. Lỗi ở tác giả TH, sử
quan Việt không dám sửa lại. ÐVSKTT nói chữ Lạc tướng bị sửa thành Hùng tướng
[NK, I:3a], thực ra chính hiệu vua Hùng cũng sai. (45)
Lối giải thích kiểu “sự
thực nhân dân” hay luật đám đông này phần nào gò ép.
Thứ nhất, cả ba dã sử Nam
Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn (Hùng vương); Giao Châu ngoại vực kí (Lạc vương; bộ
Chuy, ThC 746, sông Lạc); và Quảng Châu Ký (ghi Lạc vương [con ngựa đen, bộ
Mã]) đều tuyệt bản, khó thể bảo đảm những tác phẫm trên từng hiện hữu, và/hoặc
thông tin được trích dẫn là đúng. Vấn đề phức tạp hơn khi ứng dụng điều chính
Maspéro cảnh giác: sự lầm lẫn xảy ra khi sao đi, chép lại (theo trí nhớ). Ðọc
những gì còn truyền lại trong cổ thư Trung Hoa, chỉ những người đẻ ngày hôm trước
mới tin việc như đo bóng mặt trời để định khoảng cách từ Lạc Dương tới Giao
Châu và Nhật Nam, hai quận mới mở nằm ở phía nam chỗ mặt trời “mọc” hay “lặn,”
hay Mã Viện đã trồng cột đồng biên giới, với lời thề “đồng trụ triết, Giao Chỉ
diệt.” Vậy mà nhà Nguyên rồi nhà Minh vẫn phái sứ giả xuống truy tìm dấu tích
trụ đồng–năm 1405 bắt cha con Hồ Quí Ly cắt đất, rồi năm 1540-1541, hoặc năm
1542, theo tư liệu Minh, ông cháu Mạc Ðăng Dung vẫn cam tâm “trả lại” cho nhà
Minh năm châu biên giới, bao gồm cả Phân Mao Lĩnh, nơi cỏ tranh tự chia làm hai
hướng bắc và nam; vì Mã Viện có thể đã dựng cột đồng biên giới ở đây. Thập niên
1800, Nguyễn Chủng cũng tảng lờ việc nhà Thanh lấn chiếm bảy châu động tây bắc,
thuộc Hưng Hóa, rồi chia cắt lại đất đai cho đủ số 16 châu hay mương như cũ.
Thứ hai, cần nhấn mạnh: sự
thực sử học không phải là cuộc thi tuyển số người yêu chuộng [popularity
contest]–ngoại trừ loại “sử” tuyên truyền, do nhiều người viết hay được nhiều
người ái mộ. Hai nguồn tư liệu nói Lạc Vương (Giao Châu ngoại vực kí và Quảng
Châu Ký), trong khi một tư liệu nói Hùng Vương (Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn)
chưa đủ cơ sở giúp nhảy đến kết luận thông tin giống nhau từ hai dã sử [đã thất
lạc] đáng tin hơn một dã sử [cũng thất lạc]. Hàng triệu tài liệu trong nước ghi
tên thực Hồ Chí Minh là “Nguyễn Sinh Cung”–nhưng điều đó sai lầm. Tên đi học của
Hồ tại trường Pháp Nam Thừa Thiên (Ðông Ba) và Quốc Học (năm 1908-1909) là
“Nguyễn Sinh Côn.” (Xem Phụ Bản tư liện Nguyễn Sinh Côn, cựu học sinh trường
Pháp-Nam Ðông Ba, được nhận vào trường Quốc Học từ ngày 8/8/1908; trong “Phỏng
Vấn Sử Gia Vũ Ngự Chiêu về Hồ Chí Minh” của Nguyễn Vĩnh Châu; Hợp Lưu website)
Thứ ba, Maspéro thường
thích bắt những người chép hay khắc bản cổ thư Trung Hoa lẫn lộn chữ này sang
chữ khác–như Lạc chép sai thành Hùng, Lang bộ khuyển chép thành Lang bộ ấp, hay
Dạ đọc thành Văn [1918, 3:2]–vì những cặp chữ trên có vẻ giống nhau. Không để ý
đến thói quen kị húy, hay sửa đổi chữ viết theo sở thích: Thí dụ khi viết tên
sông Lạc nhà Hán đổi chữ Lạc (bộ thủy) sang chữ Lạc (bộ Chuy, ThC 746), vì nhà
Hán vượng về hỏa, nên kị nước [Lạc bộ thủy].
Thứ tư, và đặc biệt quan
trọng, là cả hai chữ Lạc và Hùng đều là Hán ngữ, không phải tiếng cổ Việt
mà văn gia Hán mô tả nghe như “tiếng chim,” hoặc chữ viết thì giống
hình nòng nọc, năm 2532 TTL Nghiêu cho chép lại làm “lịch rùa.” Rất có khả năng
cả hai tên Hùng và Lạc đều do người Hán khai sinh hoặc chuyển âm sai. Kiểu Liên
bang Mỹ [“United States of America”] trở thành “Hoa Kỳ” hay France thành “Phật
Nhĩ Lan,” rồi “Pháp”–hai tên dịch quốc hiệu hoàn toàn vô nghĩa, nhưng trở thành
chính thức ở Việt Nam hiện nay. Hay, kiểu chữ ký bằng cách vẽ bọ-cạp, ngựa,
chim ưng, v.. v.. của các tù trưởng Indians [da đỏ] tại châu Mỹ trong các hiệp ước
ký với viên chức thuộc địa và nhà thám hiểm Pháp và Bri-tên bốn, năm thế kỷ trước.
(Tại văn khố Eau Claire, Wisconsin, còn lưu trữ nhiều “hiệp ước” kiểu này. Ngày
mới di dân sang Mỹ (1975-1976) tác giả đã làm việc trên các tư liệu về các chuyến
“thám hiểm” của người Pháp, nên có những địa danh như “Eau Claire” (nước
trong), v.. v..). (Vấn đề dịch các chữ nôm như Bến Nghé thành Ngưu chử; Ba
Giồng thành Tam Phụ (Ba Giòng), sông Cầu thành Nguyệt Ðức, v.. v..)
Vấn đề cần đặt ra là chủ
ý Maspéro ra sao? Tìm hiểu sự thực sử học hay tìm cách đả kích và sỉ nhục sử
quan Việt?
9. Một số tác giả tự nhận
là Marxist Việt, như Ðào Duy Anh, nghiêng về thuyết “Lạc Việt.” Trong phần chú
giải ÐVSKTT (ấn bản 1967), Ðào Duy Anh không nhắc gì đến Nam Việt Chí (Hùng Vương),
mà chỉ khẳng định Hùng Vương là do sự chép sai tên Lạc Vương. “Lạc” của Ðào Duy
Anh là “chim Lạc” ở miền Giang Nam khắc trên trống đồng và cán búa.
Xem những hình thuyền chạm
trổ trên thân trống đồng Ngọc lũ, người ta lại thấy rõ ràng đó là thuyền đi biển
có cột buồm và bánh lái mũi. Những điểm ấy khiến chúng ta thấy rằng những người
đúc trống ấy–người Lạc Việt–tất đã từng vượt biển. Những chim Hậu điểu ấy, người
ta thấy khắc trên trống đồng ấy, tức là người Lạc Việt. Tìm ý nghĩa chữ [Lạc, bộ
Mịch ] hay [Lạc, bộ Mã] là họ, tức tên thị tộc của người Lạc Việt, chúng ta thấy
chữ ấy chỉ một loài Hậu điểu ở vùng Giang Nam. Xã hội học cho chúng ta biết rằng
các thị tộc ở xã hội nguyên thủy thường lấy tên các vật tổ mà đặt tên. Như thế
thì chữ Lạc chính là tên vật tổ, tức loài chim hậu điểu mà chúng ta thấy hình
dung trên trống đồng Ngọc lũ.” (46)
10. Cuộc tranh luận còn
kéo dài vì ai cũng nghĩ chỉ có mình đúng. Thực ra, các học giả trên quên một điều
cơ bản: Tất cả đều có thể sai. Chữ Hùng hay Lạc là Hán ngữ. Người Việt đọc
hai chữ trên theo âm Việt, không phải âm Hán.
Giống như sau này các học
giả Pháp, như Léonard Aurousseau, đi tìm nguồn gốc các địa danh mà họ gọi là
Cochinchine, từ những tiếng “Coci” hay Cochin China, Cauchin China trên những tấm
bản đồ thế kỷ XV-XVI. Rồi viện dẫn tên Caugigu từ cuốn “hồi ký” The Kingdoms
and Marvels of the East [Các vương quốc và kỳ quan phương Ðông] của Marco Polo.
(47)
Thứ hai, không ai muốn thừa
nhận rằng lập luận của mình chỉ dựa theo cảm hứng, không đưa ra một chứng cớ rõ
ràng và hiển nhiên nào để bảo vệ các tước hiệu Hùng Vương hay Lạc Vương. Vài ba
câu trong dã sử Trung Hoa, phần lớn đã tuyệt bản, có gì đáng tin cậy? Ðặc biệt,
chưa tác giả nào nêu được yếu tố ưa ngụy tạo tư liệu của văn gia Hán cho những
mục đích giai đoạn–như trụ đồng Mã Viện, hay bà Triệu Ẩu vú dài ba thước! Giống
mọi Bàn Hồ. Hay, những “công trình khoa học đo bóng mặt trời” để chứng thực việc
Nhật Nam và Lâm Ấp là xứ ở phía nam điểm mặt trời mọc, và tính chất cổ thời của
môn khoa học thực nghiệm trên đã được khởi đầu từ đời Nghiêu, Thuấn! (48)
Thứ ba, những người tham
dự tranh luận thường có rất ít huấn luyện chuyên nghiệp về sử học–tức cách sử dụng
tư liệu cho hợp lý. Ðó là chưa kể mục tiêu truyền đạo hay chiến tranh ý thức hệ,
kiểu đinh ninh có một cộng đồng nguyên thủy [primordial community] chỉ hiện hữu
trong đầu óc hoang tưởng của Karl Marx, một triết gia hậu Trung Cổ; hay quả thực
có những Nghiêu, Thuấn, v.. v.. của một thời thái bình, thịnh trị.
Ngắn và gọn, câu hỏi là hơn
hai ngàn năm trước, cổ Việt đã tiến tới một tổ chức chính quyền quân chủ, phong
kiến chặt chẽ? Hay còn trong tình trạng bộ lạc, lấy việc thắt nút giây thừng để
ghi nhớ việc lớn, nhỏ như Cao Hùng Trưng chơi chữ? Hiển nhiên, tài liệu thành văn
của Trung Hoa và gia tài truyền khẩu sử còn quá khiếm khuyết cho một kết luận
khách quan sử học.
III. VUA HÙNG & DI
TÍCH KHẢO CỔ:
THỰC CHĂNG NHÀ HỒNG BÀNG
HIỆN HỮU?
Sự im lặng của thư tịch cổ
Trung Hoa về nhà Hồng Bàng cùng các vua Hùng khiến việc tìm hiểu cổ Việt hầu như
bất khả trước thế kỷ XX. Thật may mắn, những tài liệu khảo cổ phát hiện trong
lòng đất giúp các sử gia bừng lên một hy vọng tìm ra ánh sáng ở cuối đường hầm.
Trên báo Nhân Dân, có người từng viết: “Lật đất lên, bốn ngàn năm lịch sử.”
A. TƯ LIỆU KHẢO CỔ:
1. Tại Việt Nam, theo các
nhà khảo cổ, đã tìm thấy 10 dấu tích hóa thạch của người vượn [Homo erectus]–xuất
hiện khoảng 1,750,000 TTL [BC] biết dùng lửa, và ngôn ngữ sơ khai–tại Lạng Sơn:
hang Thẩm Hai (1 răng lớn, 1964) và Hang Thẩm Khuyên (9 răng, 1965). Hai động
này cách nhau 200 thước, cùng nằm trong dẫy núi đá vôi thuộc xã Tân Văn, huyện
Bình Gia, tây bắc thị xã Lạng Sơn 65 cây số. Răng hóa thạch của người Homo
sapiens [người khôn ngoan sơ khởi] còn tìm thấy ở Nghệ An (Thẩm Ôm, xã Châu Thuận,
huyện Quì Châu, 140,000-250,000 trước) và Yên Bái (Hang Hùm, xã Ðồng Tâm, huyện
Lục Yên, 1966, 70,000-60,000 năm trước). Hóa thạch người Homo sapiens sapiens
[người khôn ngoan thế hệ sau, xuất hiện giữa 500,000-50,000 TTL], tìm thấy ở
Thung Lang (Ninh Bình) và Kéo Lèng (Yên Bái), khoảng 30,000 năm trước [đồ đá cũ].
(49 [54])
2. Thời đại đồ đá:
a. Thời kỳ đồ đá cổ, bắt đầu từ khoảng
23,000 TTL [BC], tìm thấy nhiều tước nhỏ dùng làm nạo và mũi nhọn của thời người
khôn ngoan sớm (Homo Sapiens) ở mái đá Ngườm (Võ Nhai). Tại núi Ðọ (xã Thiệu
Khánh, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa) phát hiện số lượng khá lớn lưỡi rìu sơ kỳ
(cleavers or hachereaux) đồ đá cũ (ca 18,000-10,000 TTL [BC]). Xuân Lộc (Biên
Hòa) cũng tương tự như ở núi Ðọ. Tuy nhiên, bị hoài nghi vì khó định tuổi những
dụng cụ bằng đá quá cổ (do ảnh hưởng của thời tiết và thời gian, thường gọi là
weatherance). Ngoài ra, chưa tìm được đồ dùng thời đá cổ trung kỳ và hậu kỳ. Tại
làng Sơn Vi, huyện Lâm Thao, Vĩnh Phú–nơi có đền Hùng–phát hiện một số dụng cụ đồ
đá, đặc biệt là đá cuội. (50 [55])
b. Ðồ đá giữa: Chưa tìm
thấy ở Việt Nam.
c. Ðồ đá mới: Dấu tích thời
“Ðồ đá mới” (xuất hiện vào khoảng 5,000 TTL) tìm thấy ở Hòa Bình và lưu vực
sông Hoàng Hà [Huanghe]. Dụng cụ đồ đá mới xuất hiện nhiều nhất tại Bắc Sơn
(6095 [60 B.P.] và Quỳnh Văn (4730 [75 B.P.]. Ðó là công cụ hình hạnh nhân, hình
dĩa của dân sống trong hang động. Mặc dù có trình độ chế biến cao, vẫn là đồ đá
lớn (megalith), không có đồ đá nhỏ như ở Âu châu (ngoại trừ Indonesia). [Giả
thuyết: Phải chăng vì người tiền cổ dùng tre, nứa?] Có dấu hiệu trồng trọt, nhưng
chắc chỉ trồng củ.
(1) Ðồ đá mới sơ kỳ
(Early Neolithic Period, 6,000-3,000 TTL): Tại Việt Nam, có khá nhiều di tích
thời Ðồ đá mới sơ kỳ (6,000-3,000 TTL), tức đồ đá mài (song song với việc trồng trọt và
nuôi gia súc tại các vị trí cố định).
Hòa Bình [trước Bắc Sơn]: đá cuội. Dân sống gần cửa
hang. [đồ đá giữa và rìu ngắn [mài lưỡi], chày nghiền hạt, nông nghiệp sơ khai.
Chôn người chết. Tín ngưỡng đạo vật tổ sơ khai. công cụ hình hạnh nhân, hình dĩa
của dân sống trong hang động. [C14: 10,875+/-175 tới 7,500 BC] [C14 10,875 +/-
175.
Bắc Sơn: Dụng cụ đồ đá mới xuất
hiện nhiều nhất tại Bắc Sơn [Lạng Sơn] (6095+/- 60 B.P.) (51)
Ðó là công cụ hình hạnh
nhân, hình dĩa của dân sống trong hang động, rìu ngắn [mài lưỡi] Bắc Sơn (Lạng
Sơn) [C14: 10,295 +/- 200 tới 9,990 BC+/- 200] đã biết trồng trọt, nhưng chủ yếu
vẫn là hái lượm và săn bắn. đồ gấm thô, nặn. Theo Mansuy: người Indonesian du
nhập vào.
(2) Ðồ đá mới [hậu kỳ]
[Late Neolithic Period]:
(a). Quỳnh Văn (4730 +/-
75 B.P.):
Ðồ đá mới [hậu kỳ] [Late
Neolithic Period] được phát hiện tại Quỳnh Văn năm 1963 (khác với rìu Bắc Sơn).
Cư dân có thể đã biết trồng trọt. Chế tạo các đồ gốm thô [Mansuy cho rằng người
Indonesian du nhập vào].
Tìm thấy ở ven biển Bắc Bộ
và Trung Bộ (Hạ Long [Quảng Ninh, 4000-3500 trước [2000-1500 TTL], Ða Bút [hạ lưu
sông Mã, Thanh Hóa], Bàu Tró [ven biển Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, 4000-3500
trước [2000-1500 TTL]). Họ thuộc gia đình tiếng nói Melanesien,
Australo-Melanesien, Australo-Mongoloid và Indonesien (Proto-Malay). (52)
(b). Phùng Nguyên (xã
Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, [Vĩnh Phú] tỉnh Phú Thọ)
Cuối đá mới, chuyển sang đồng
thau.
[Lan, 1969:57-8] Cơ sở để nghiên cứu Hùng Vương. thẻ đá; ở Lũng Hòa, một chiếc
qua bằng đá; hoa văn đồ gốm, tương đương đời Thương Ân, Tây Chu. [Lan, 1969:57]
Mạt kỳ đồ đá mới. Gống văn hóa Thương-Ân] Khoảng 2000-1500 TTL. [Lan & Kỉnh
1968, tr. 36; Lan, 1969:56-8]
An Ðạo, Phù Ninh, Vĩnh
Phú
Hương Nộn, Gò Chùa
Thượng Nung, Gò Bòng, Tam
Nông, Vĩnh Phú [có dấu vết đồ đồng] [Lan, 1969:57]
Lũng Hòa, Vĩnh Tường, Vĩnh
Phú
Ðôn Chăn, Lập Thạch, Vĩnh
Phú
An Thượng, Hà Tây
Yên Tàng,
Ðậu Dương A: cơ sở chế tạo đồ đá nằm
trên đồi hoặc gò cao (vùng trung du) [Lan & Kỉnh 1968, 37] [lưu ý: mực nước
tăng lên sau đại hồng thủy]
Hình di tích: đa số là di
chỉ cư trú (Phùng Nguyên, An Ðạo, Yên Tàng, Văn Ðiển)
Lũng Ðịa hòa: nghĩa trang. [Lan & Kỉnh
1968, 37]
Phượng Cách (Hà Tây)
Văn Ðiển (Hà Nội) nhà cửa. [Lan & Kỉnh
1968, 38]
sinh thổ là đất sét hay đất
đồi. [Lan & Kỉnh 1968, 38]
Di vật: đồ đá [Lan &
Kỉnh 1968, 39-40] kể cả vũ khí, đồ trang sức
Ðất nung: đồ gốm [Lan
& Kỉnh 1968, 40-1]
Gò Chùa Thông (gần Văn Ðiển)
Vào thời hậu kỳ đá mới bắt
đầu có trồng trọt, như tại Quỳnh Văn, nhưng căn bản vẫn là săn bắn và hái, lượm
trái cây. (53)
3. Thời đại đồ đồng:
a. Ðồng thau: Ðồng thau:
[đồng-chì-thiếc]
Theo Hà Văn Tấn, thời đại
đồ đồng gắn liền với văn hoá Phùng Nguyên (Kinh Kệ/Lâm Thao/Vĩnh Phú,
1480-1280 TTL), khai quật năm 1959-1960:
- Lưu vực sông Hồng-Phú
Thọ tới Hải Phòng)-Hoa Lộc (Hậu Lộc-Thanh Hóa): Luyện đồng tại ngay nước ta.
[?]
- Sau đó di tích ở Vĩnh
Phú (Gò Mun [1215-975 TTL], Ðồng Dậu [1220-1020 TTL]) và Hà Tây. Ngoài gần 70
trống loại Heger I, người ta còn tìm thấy hai lưỡi cuốc có vai [shouldered hoe]
bằng đồng tại Bú Trăn, khoảng 17 cây số tây bắc Vinh. (54)
a. Gò Mun (Việt Tiến, Lâm Thao): sơ
kỳ Ðông Sơn. [Lan, 1969:58]
Gò Mun, Thanh Ðình, Phú Hậu
(Phú Thọ [1500-1000 TTL])
Thụy Vân (Gò Tro), Nghĩa
Hưng (Vĩnh Tường) [hoa văn gốm tinh xảo], Hoằng Ngô, Ðại Áng: Giống Gò Mun, sơ
kỳ văn hóa Ðông Sơn = thời kỳ lập quốc của vua Hùng. [Lan, 1969:59]
Nông nghiệp: trồng lúa nước.
tùy theo nước triều lên xuống [floating rice?]; ANCL của Lê Tắc, Thủy Kinh Chú
của Lịch [Lệ] Ðạo Nguyên, dẫn trong Vân Ðài Luận Ngữ của Lê Quí Ðôn.
b. Ðồng Dậu: Yên Lạc, Vĩnh Phú: Nhiều
tầng văn hóa. Cuối đá mới hậu kỳ, chuyển sang đồng thau: Gạch nối giữa Gò Mun
và Ðông Sơn. [Lan, 1969:59] [1500-1000 TTL])
Quế Dương (Vinh Quang,
Hoài Ðức, Hà Tây), Cổ Loa, Thọ Sơn (Việt Trì), Gò Chiền (Lâm Thao): Khoảng
400-600 TTL. [Lan, 1969:59-60]
Ðậu Dương, Thiệu Dương
(Thanh Hóa), Việt Khê (Hải Phòng), Vạn Thắng (Vĩnh Phú), Ðào Thịnh (Yên Bái) trống
đồng, thạp đồng, rìu lưỡi xéo, dao găm, lưỡi giáo, đồ gốm
c. Ðông Sơn (Thanh Hóa): Ðồng thau-sắt
sớm [Lan, 1969:58] [1000 TTL-200]: trống đồng, 200 chiếc lưỡi cày bằng đồng, cuốc,
rìu, thuổng, xẻng, v.. v...
Các di chỉ đều nằm trên đồi
hoặc gò cao (vùng trung du) [lưu ý: mực nước tăng lên sau đại hồng thủy]. (55)
Ðồng thau: làng Thọ Xuân,
thị xã Việt Trì; Gò Mun, Thanh Ðình, Phú Hậu (Phú Thọ); Phượng Cách (Hà Tây); Văn
Ðiển (Hà Nội). Ða số là di chỉ cư trú (Phùng Nguyên, An Ðạo, Yên Tàng, Văn Ðiển).
Sau định lại niên đại vào khoảng 2,000-1,500 TTL (hậu kỳ thời đá mới), xếp
thành “thời đồng thau.” (Lê Văn Lan cho rằng đó là cuối thời đá mới, đầu thời đồng
thau.
Tuy nhiên, nên nhớ nhược
tiểu, chậm tiến, định niên đại rất phức tạp) Việc trồng trọt và nuôi gia súc mới
phát triển qua việc phát hiện những lưỡi cày bằng đồng. Tại cổ Việt, thời đại đồ
đồng phát triển chậm hơn vùng Trung Ðông (hiện nay).
Các di chỉ đều nằm trên đồi
hoặc gò cao (vùng trung du) [lưu ý: mực nước tăng lên sau đại hồng thủy]
4. Thời đại đồ sắt:
Từ khoảng 2,000 TTL, các
xã hội tân tiến bắt đầu dùng đồ sắt. Tại cổ Việt, theo Hà Văn Tấn, đồ sắt tìm
thấy ở Ðông Sơn (C-14 định tuổi vào khoảng từ 350 tới 285 TTL) và gò Chiên Vậy ở
Hà Sơn Bình (khoảng 400 TTL). (56)
Lưỡi cuốc sắt [iron hoe]
có lẽ nhập cảng từ phía Bắc. Nếu tin được sử Trung Quốc, một nguyên cớ đưa đến
việc Triệu Ðà tự lập làm vua là Lữ Thái hậu không chịu bán đồ sắt cho Nam Việt.
(57)
Nhờ kỹ thuật định tuổi
các di tích ngày một tân tiến, nhiều lập luận có vẻ khoa học của thế kỷ XX (như
đo sọ người) trở thành lỗi thời. Ngày nay, các nhà khảo cứu bắt đầu sử dụng phương
pháp trắc nghiệm DNA (một hợp chất nucleic acid [gồm purines, pyrimidines,
carbo-hydrates, và phosphoric acid] chuyên chở đặc tính di truyền của tế bào) với
mức chính xác rất cao.
Nhưng một số người, vì
tín ngưỡng hoặc vì thành kiến, vẫn phủ nhận thuyết tiến hóa và các nghiên cứu
khảo cổ học. Tin tưởng vào thuyết sáng tạo của Thượng đế (God hay Allah), cùng
những cảnh giới gọi là thiên đường và địa ngục (mà Giáo hoàng John Paul II đã
phủ nhận), đa số giáo mục và giáo dân với lòng cuồng tín Trung Cổ cực lực chống
lại những điều mà họ mỉa mai là từ vượn lên người, hay duy vật. Trước viễn ảnh
của khám phá mới về cloning [tái tạo], đang có khuynh hướng tân-Gallilei
[neo-Gallileism] và tân Tòa dị giáo [neo-Inquisition] để ngăn chặn bước tiến của
khoa học.
Nếu gạt đi những thành kiến
tiên thiên về quốc hiệu Văn Lang, địa danh Phong Châu, hay vua Hùng hoặc Lạc, những
tư liệu khảo cổ giúp xác nhận vài điểm cơ bản:
1. Những di tích khảo cổ tại
Việt Nam, Hoa Nam, Ðông Nam Á, và đặc biệt là Thái Lan (Non Nok Tha), vào những
năm 1960 và thập niên 1970 (Smith và Watson, Early South East Asia, 1979)–song
song với sự tiến bộ của các kỹ thuật định tuổi di vật bằng Radiocarbon (C-14
phóng xạ), phương pháp tỉ đối Flour/Uranium/Nitrogen, hay các vòng tuổi của
cây, rồi mới đây phương pháp DNA–khiến đảo lộn từ rễ gốc nhiều lối phân tích từ
trước tới nay; (như người Việt là Tàu lai (Olov R.T. Janse, Archeological
Research in Indochina, 3 vols [Cambridge: 1947]), (58) hay di cư từ Trung Hoa
xuống (Aurousseau đề xướng; Ðào Duy Anh chế biến thêm với những hình khắc trên
trống đồng, v.. v...); hoặc các dụng cụ được chế biến, nhất là kim loại, chỉ được
nhập cảng từ ngoài vào (diffusionism).
2. Thuyết tiến hóa tại chỗ
[local evolution]:
Người ta bắt đầu phác họa
những thuyết về một chủng dân thật lớn ở Ðông Nam Á, đã có mặt tại vùng này từ
trước ngày mặt nước biển dâng cao từ 80 tới 120 thước như hiện nay. Như một hệ
luận, thuyết di dân (như các dân tộc ở Ðông Nam Á đã di cư từ Himalaya tới, hay
ngược lại) bắt đầu bị thách thức và người ta đưa ra thuyết tiến hóa tại chỗ
[local evolution].
Theo thuyết này, dân Bách
Việt [Yue] có những nhóm đã sống đời người thuyền [boat people], cắt tóc ngắn
và vẽ mình (người Ðán). Phần đông những nhóm Bách Việt tại vùng nam sông Dương
Tử [hay Trường Giang] dần dần bị Hán hóa, nhưng một nhóm dân Việt tại châu thổ
sông Hồng và sông Mã thoát nạn mà lập nên dân tộc Việt Nam hiện nay. Dĩ nhiên, điều
ấy không có nghĩa dân Việt (Hồng Hà) thuần chủng, mà đã có sự pha trộn với nhiều
giống khác, kể cả người [ở cổ] Trung Hoa. (59)
3. Niên Biểu Mới Cho Cổ Sử:
Các di tích khảo cổ cũng
giúp đặt lại vấn đề niên biểu của nhà Hồng Bàng cùng các vua Hùng. Người ta đề
nghị rằng các vua Hùng xuất hiện đâu đó giữa thời khoảng 1,500 tới 600 TTL. Những
truyền thuyết về cống rùa thần hay cống chim trĩ trắng có lẽ nên gạch bỏ. Liên
hệ Bắc-Nam chỉ khởi đầu vào khoảng Doanh hay Lã Chính [Tần Thủy Hoàng, 221-210
TTL] và Lưu Triệt (Hán Vũ Ðế, 140-87 TTL]. Rousseau thì đề nghị An Dương Vương
là một tác nhân lịch sử, cai trị từ 210 tới 207 TTL. Nhưng Maspéro chỉ lùi một
bước, cho rằng An Dương Vương, được nhắc đến trong cổ thư Trung Hoa, là “bán
huyền thoại.”
4. Cần cảnh giác là sử dụng
tài liệu khảo cổ không dễ. Mục tiêu hoặc khuynh hướng chính trị của nhà khảo cổ
chi phối nặng nề các giả thuyết tiền sử. Nên không có gì ngạc nhiên khi thấy
thuyết di dân và nhập cảng thống trị các nghiên cứu trước Thế chiến thứ hai
(1939-1945), trong khi thuyết tiến hóa tại chỗ bắt đầu thăng tiến sau ngày các
thuộc địa cũ giành được độc lập.
Ngay các nhà khảo cổ Xã Hội
Chủ Nghĩa thân thiết như môi với răng, “vừa là đồng chí, vừa là anh em,” cũng từng
to tiếng tranh luận. Các chuyên viên Việt Nam nặng lời chỉ trích học giả TH đã
phủ nhận nền văn hóa Ðông Sơn, phủ nhận nhà nước Âu Lạc cổ đại đầu tiên của Việt
Nam, dù nhìn nhận có cuộc khởi binh của Trưng Vương, nhưng gọi đó là “giặc,”
“làm phản,” “chống lại bọn tham quan” chứ không phải là giành độc lập, và hai
bà thất bại là lẽ tất nhiên vì tách khỏi người Hán là đi ngược lại quyền lợi
chung, hay từ thế kỷ X, Việt Nam mới có nhà nước, trước đó lệ thuộc vào nhà Tần
đến nhà Ðường. (60)
5. Các di tích khảo cổ cũng
chỉ là những dữ kiện chết; không có dẫn giải hay phê bình. Thật khó để suy đoán
nguồn gốc thực sự (ai sáng chế) của các di tích khảo cổ, nói chi thể chế chính
trị hay sự hình thành quốc gia [state formation]. Những di tích về nhà máy sản
xuất đồ đá hay đúc đồ đồng vẫn chưa được cộng đồng học giả thế giới thừa nhận.
6. Vấn đề sinh hoạt tinh thần
cũng gây nhiều bàn cãi. Một đề tài gây nhiều tranh luận nhất là tô-tem hay vật
tổ. (Emile Durkheim, Les formes élémentaires de la vie religieuse [Những hình thái
sơ đẳng của sinh hoạt tôn gíáo]). Victor Goloubew dựa theo hình vẽ [hoa văn]
trên trống đồng Ngọc Lũ ra sức chứng minh rằng vật tổ của người Việt là “chim hậu
điểu.” (61) Ðào Duy Anh–“một sử gia nhân dân,” có nhiều nghiên cứu và thông dịch
tư liệu từ chữ Hán-Nho qua quốc ngữ mới, dựa trên chữ cái Latin–thì nghĩ rằng
“tô-tem” (vật tổ) của người Việt là chim Lạc ở miền Giang Nam. Văn Tân bài bác
lập luận này; thay bằng “rồng rắn”, “một loài bò sát,” (như cá sấu = giao
long), sau chuyển thành “rồng” kiểu Trung Hoa. (tr. 24-5) Hà Văn Tấn, cho rằng
tô-tem vừa có chim Lạc, vừa có giao long. Chim Lạc (tức cò hay sếu, tr. 76) khắc
trên đầu thuyền để trấn áp gió. Giao long là cá sấu (trên búa Ðông Sơn nữa, tr.
78-9). (62)
Cuộc bàn cãi, dĩ nhiên, sẽ
chẳng bao giờ dứt. Sau khi ra sức đả phá sử phong kiến, thực dân, sử quan “Cộng
Sản” Việt Nam bắt đầu viết lại những thiên tiểu thuyết dã sử khác về nhà Hồng
Bàng–dựa theo khuôn mẫu duy vật đã được Karl Marx đề xướng: sự tiến hóa của lịch
sử đi qua những giai đoạn ước lệ và hoang tưởng như cộng đồng nguyên thủy, sự
biệt phân xã hội hay hình thành các giai cấp địa chủ, nô lệ hay nông nô, v..
v..
Dẫu vậy, tài liệu khảo cổ
học tại Việt Nam và Hoa Nam–kể cả ngôi mộ vua Triệu Hồ ở Quảng Châu–nói riêng,
toàn vùng Ðông Nam Á nói chung, giúp người đời sau có một khái niệm về cổ Việt
trước thế kỷ thứ I. Ðại cương, trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay đã xuất hiện nhiều
cộng đồng cư dân, bao gồm ít nhất tám hạt nhân chính trị-văn hóa-kinh tế trong
dĩ vãng: Ðại Việt [Da Yue], Da Le [Ðại Lý], Da Nan [Ðại Nam của họ Nùng], Mường
Việt, Thái/Tày, Champa [Lâm Ấp/Lin Yi], Thủy Chân Lạp [Shui Chen La] và các
nhóm ngôn ngữ Polynesian, Indonesian ở vùng cao nguyên miền Trung [Trung
Nguyên].
B. CỔ VIỆT:
Không ai có thể chối cãi được
một sự thực: Trước ngày bị Hán tộc xâm lăng, đã có một xã hội cổ Việt. Hạt nhân
chính trị, xã hội, văn hóa và kinh tế cổ Việt là đồng bằng sông Hồng-sông Mã và
vùng trung du. Về chủng tộc, tương đối thuần nhất. Khoảng hơn 90 phần trăm là
người “kinh,” phân phối không đồng đều tại các vùng châu thổ, duyên hải và đồi
núi trung du dài theo các sông ngòi. Mật độ dân số tại các đồng bằng châu thổ
khá cao. Ða số sống bằng nghề nông và đánh cá. Ðơn vị xã hội là thôn, xã–tiêu
biểu gồm các xóm nhà vườn vây quanh bằng những lũy tre gai, hay nhưng ngôi làng
nổi của ngư dân.
Trước đợt xâm lăng đầu
tiên của Tần Thủy Hoàng, dân cổ Việt đã biết canh tác; không phải với cày và
trâu như TH; nhưng lợi dụng thủy triều hoặc sử dụng những lưỡi rìu đá mài
[houes de pierre polie]. Ngoài ra, họ còn đánh cá, đi săn, nhất là những sắc
dân định cư ở vùng duyên hải và các cồn cát. Maspéro, “Van Lang,”1918, 3:9]
Nhiều bộ lạc sống ở miền
duyên hải, sống bằng nghề đánh cá. Một số sống trong các hang động đá vôi ở
vùng thượng du và ngoài vịnh Hạ Long ngày nay. (63)
Ngoài ra, còn những cộng đồng
ở vùng đồi núi trung du, đặc biệt là Sơn Tây, Vĩnh Phúc Yên.
Dân chúng thường xâm
mình, để tóc dài, hay cắt tóc ngắn.
Giống như hầu hết các dân
tộc Ðông Nam Á, dân cổ Việt thích ăn trầu [chiquer de bétel]. Một du khách
Trung Hoa ghi nhận cây cau là một thổ sản đặc biệt của “Nam Man.”
Về khí giới tự vệ, đã biết
đúc mũi tên đồng và dùng chất độc. Nếu tin được Lưu An, một tôn thất nhà Hán phụ
trách miền Nam, năm 135 TTL, dân Việt vẫn chưa có thành quách, sống ở ven suối,
rừng rậm, rành nghề thủy chiến. Chi tiết này có thể bác bỏ việc dân cổ Việt đã
tiến lên được tổ chức một nước, theo kiểu mẫu Trung Hoa hay Tây phương. Và, từ đó,
giúp tăng bổ cho thuyết thành trì là do Hán tộc áp đặt, để đồn trú quan lại thuộc
địa, quân lính và kho tàng. Thành Cổ Loa, chẳng hạn, có thể chỉ được xây dựng từ
thời Hán. (Maspéro, “Van Lang,”1918, 3:10]
Tôn giáo, tế lễ: Liên
quan đến nghề nông. Maspéro, “Van Lang,”1918, 3:9]
Triệu Ðà [Zhao Tuo] gọi
dân Âu Lạc là “xứ ở trần” hay khỏa thân [Royaume des Nus]. Cuối thế kỷ X, vua
quan Tống còn miệt thị răn bảo Lê Hoàn nên từ bỏ lối ăn uống bằng lỗ mũi, trút
bỏ áo quần bằng cỏ tranh và lá cây, thay bằng gấm lụa Trung Hoa:
Dân của khanh ngửng cổ mà
bay, thì ta có xe và ngựa, dân khanh dùng mũi mà uống, thì ta có rượu thịt, để
bỏ tục mọi rợ của khanh. . . . Dân khanh cắt tóc thì ta có áo mũ, dân khanh nói
líu lo như chim thì ta có thi, thư để dạy dỗ phong tục cho khanh. Ðất Viêm Giao
nóng bức, mờ mịt khói mù thì ta mang chòm mây của vua Nghiêu để rưới cơn mưa ngọt;
khí độc dưới biển bốc lên, như lửa đốt nắng thiêu, thì ta lên tiếng đàn vua Thuấn
quạt ngọn gió êm; Khanh ngôi sao mờ, không ai biết đến, còn ta là ngôi sao Tử
Vi đế tọa, các sao đều phải chầu bậc chí tôn; đất khanh có giống yêu ma, người
ta thấy quái dị mà sợ, ta đúc cái đỉnh lớn khiến cho chúng không dám làm hại. Vậy
thì khanh phải ra khỏi hòn đảo mọi rợ, đến xem lễ nhạc ở nhà Minh Ðường, Bích
Ung; bỏ lối ăn mặc đồ cỏ, lá cây, mà yêu chuộng đồ thêu thùa áo xiêm long phụng; . . . hễ theo thì được tha tội, nghịch lại
thì ta đánh, [hướng hóa ngã kỳ xá, nghịch mạng ngã kỳ phạt]. theo hay không
theo, trong hai đường ấy, khanh hãy xét lấy.(64)
Nhưng thực ra dân Việt đã
chế biến được áo quần, dù chưa tinh xảo và đẹp mắt như lụa là, gấm vóc Hán.
Ngoại trừ trường hợp có
những khám phá đặc biệt nào đó trong ngành khảo cổ học, các nhà cổ sử của thế kỷ
XXI chỉ có thể nhìn về núi Hùng với sự bất lực ở nhận thức rằng có lẽ nhà Hồng
Bàng mãi mãi là một thứ “dĩ nghi, truyền nghi.”
Houston,
13/11/2011
Vũ Ngự Chiêu
Những chữ viết tắt:
ANCL : Lê Tắc, An Nam Chí Lược, bản dịch Chen Ching
Ho [Trần Kính Hòa] et al. (Huế: Ðại Học Huế, 1961).
BAVH: Bulletin des Amis de Vieux Hué. (Huế, Việt Nam)
BEFEO: Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême-Orient
(Hà Nội, Việt Nam)
CM, TB: Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục [CM], Tiền
Biên [TB], bản dịch Trương Bửu Lâm et al., (Sài Gòn: 1960-1970), tập 1; Tiền
Biên [TB] & Chính Biên [CB], bản dịch viện Sử học, 2 tập (Hà Nội: NXB Giáo
Dục, 1998).
Dư Ðịa Chí: của Nguyễn Trãi, trong Ức Trai Di Tập
(1868); bản dịch Viện Sử Học, trong Nguyễn Trãi Toàn Tập [NTTT], in lần thứ hai
có tăng bổ và hiệu đính, (Hà Nội: KHXH, 1976), tr. 211-46, 543-662.
ÐNLT: Ðại Nam Liệt Truyện Tiền Biên [TB] & Chính
Biên [CB], 5 tập (1992); Tiền Biên [TB] (1995)
ÐNNTC: Ðại Nam Nhất Thống Chí, bản dịch Phạm Trọng Ðiềm
và Ðào Duy Anh, 5 tập (NXB Thuận Hóa, 1997),
ÐNTL: Ðại Nam Thực Lục, bản dịch Viện Sử học, 38 tập
(Hà Nội: 1962-1978)
ÐVSKTB: Ngô Thì Sĩ et al., Ðại Việt Sử Ký Tiền Biên, Quốc
sử quán Tây Sơn (1798-1800), 17 tập (7 NK, 10 BK), bản dịch Dương Thị The et
al. (Hà Nội: 1997)
ÐVSKTT: Ngô Sĩ Liên et al., Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngoại
Kỷ, bản dịch Cao Huy Giu, 4 tập (Hà Nội: 1967), bản dịch Mạc Bảo Thần-Nhượng Tống
(1944, 1964?); bản dịch Ngô Ðức Thọ, Hoàng Văn Lâu & Ngô Thế Long, 3 tập
(Hà Nội: 2009).
Thông sử [ÐVTS]: Lê Quí Ðôn, Ðại Việt Thông Sử, bản dịch
Ngô Thế Long, trong Lê Quí Ðôn Toàn Tập (Hà Nội: 1978), tập III.
HL: Hợp Lưu (Fountain Valley, CA)
JAS: Journal of Asian Studies (Ann Harbor, MI, USA)
LSTL: Nguyễn Trãi, Lam Sơn Thực Lục, trong Ức Trai Di
Tập; bản dịch Viện Sử Học, trong Nguyễn Trãi Toàn Tập [NTTT], in lần thứ hai,
(Hà Nội: KHXH, 1976), tr. 43-74, 479-82.
LTHCLC: Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí,
(Sai Gòn: 1972), bản dịch Viện Sử học, 3 tập (Hà Nội: 1992)
NCLS: Tập san Nghiên Cứu Lịch Sử (Hà Nội)
Ngô Thì Nhậm: Tuyển Tập Thơ Văn Ngô Thì Nhậm, Mai
Quốc Liên et al. dịch, 2 tập (Hà Nội: KHXH, 1978).
NTTT: Nguyễn Trãi Toàn Tập, tái bản có bổ sung (Hà Nội:
KHXH, 1976),
PBTL: Lê Quí Ðôn, Phủ Biên Tạp Lục, bản dịch Lê Xuân
Giáo (Sài Gòn: 1972)
TKCS: Thủy Kinh Chú Sớ, Lịch Ðạo Nguyên, et al., bản dịch
Nguyễn Bá Mão (Hà Nội: 2004).
VÐLN: Lê Quí Ðôn, Vân [Văn] Ðài Luận Ngữ, bản dịch Phạm
Vũ và Lê Hiền (Sài Gòn: 1973?).
VSTA: Ngô Thì Sĩ, Việt Sử Tiêu Án (Sài Gòn: 1960,
1967).
Léonard Aurousseau, “La première conquête
chinoise des pays ananmites;” Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême-Orient
[BEFEO], XXIII (1923), tr. 213n3, 239-40: nhà Thục tồn tại 3 năm; Maspéro: bán
thần thoại; T’Oung Pao, XXIII, 1924, tr. 373-79;
Ðinh Văn Nhật, “ Ði tìm quê hương cũ của An Dương
Vương Thục Phán.” NCLS, số 166 (2/1/1976), tr. 65-83, 87.
Henri Maspéro, “Etudes d’histoire d’Annam [Nghiên
cứu lịch sử An Nam], IV. Le Royaume de Van Lang [Vương quốc Văn Lang];” BEFEO,
Vol. XVIII (1918), no. 3:7 [1-10].
Nguyễn Linh. “Bàn về nước Thục của Thục Phán.”
NCLS, 124 (7/1969), tr. 33-51.
Nguyễn Linh. “Về sự tồn tại của nước Văn Lang;”
NCLS, 112 (7/1968), tr. 19-32
Phụ chú:
1. Nha Học Chính Ðông Pháp, Sử Ký- Ðịa Dư Giáo
Khoa Thư, Lớp Sơ Ðẳng, do Trần Trọng Kim, Thanh tra các trường Sơ đẳng Bắc Kỳ,
và Ðỗ Ðình Phúc, Sơ đẳng giáo học thượng hạng, biên soạn, Việt Nam Tiểu Học
Tùng Thư, in lần thứ nhất (Hà Nội: 1927), tr. 8. Trần Trọng Kim còn là tác giả
Việt Nam Sử Lược, ấn bản 1919. Sách này nhiều lầm lỗi, nhất là giai đoạn Pháp
xâm chiếm Ðại Nam. Những bộ quốc sử Việt đều đã được dịch qua chữ Việt mới: Ngô
Sĩ Liên et al., Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngoại Kỷ [ÐVSK, NKTT], I:3a; bản dịch
Cao Huy Giu, 4 tập (Hà Nội: 1967), bản dịch Mạc Bảo Thần-Nhượng Tống (1944,
1964?); bản dịch Ngô Ðức Thọ, Hoàng Văn Lâu & Ngô Thế Long, 4 tập (Hà Nội:
2009), 1:153; và, Bản Kỷ Thực Lục [BKTL], q. XIII:17a, Hoàng Văn Lâu (2009),
2:589; Ngô Thì Sĩ et al., Ðại Việt Sử Ký Tiền Biên, Quốc sử quán Tây Sơn
(1798-1800), 17 tập (7 NK, 10 BK), NK I:1a-11a; bản dịch Dương Thị The et al.
(Hà Nội: 1997), tr. 39-46; Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục [CM], Tiền
Biên [TB], I:3a, bản dịch Trương Bửu Lâm et al., (Sài Gòn: 1965), 1:16-7; bản dịch
viện Sử học, 2 tập (Hà Nội: NXB Giáo Dục, 1998), 1:74. Sử Nguyễn thường dùng tiếng
“Hán nhân” để chỉ người Việt. Ngoài ba bộ quốc sử trên, sử quan có thể bị ảnh hưởng
Nguyễn Trãi, Dư Ðịa Chí, số 1, trong Ức Trai Di Tập (1868); bản dịch Viện Sử Học,
trong Nguyễn Trãi Toàn Tập [NTTT], in lần thứ hai có tăng bổ và hiệu đính, (Hà
Nội: KHXH, 1976), tr. 211 [211-46], 543 chú 3-5 [543-662]. Xem thêm Quốc sử
quán nhà Nguyễn, Ðại Nam Nhất Thống Chí [ÐNNTC], q. XIII: Tỉnh Hà Nội, bản dịch
Phạm Trọng Ðiềm và Ðào Duy Anh, 5 tập (NXB Thuận Hóa, 1997), tập 3, tr. 223.
2. CM, TB, I:1A, (Sài Gòn: 1965), 2:8-9. Xem thêm
Nguyễn Trãi et al, Dư Ðịa Chí, số 2, 3, 4, 7, 9, NTTT (Hà Nội: 1976), tr.
211-12, 214, 215.
3. CM, TB, I:1b-2 (Sài Gòn: 1965), 2:8-15; ÐVSK,
NKTT, I:1b, 5b, Thọ (2009), 1:151, 155; Mạc Bảo Thần-Nhượng Tống (1944, 1964),
tr. 33; Giu (1967), 1:59-60; ÐVSKTB, Ngoại Kỷ, I:1b-2a, The (1997), tr. 39-40;
Dư Ðịa Chí, số 2, 3; NTTT, (1976), tr. 211-12.
4. CM, TB, I:2a, 3b-4a (Sài Gòn: 1965), 1:12-3.
Xem thêm Tấu nghị ngày 11/7/1856 [mồng 10/6 Tự Ðức 9]; CM, TB, Quyển Thủ:3b-4b,
(Sài Gòn: 1960), 1:12-7; Dụ Chỉ 2 ngày 12/8/1856 [12/7 TÐ 9 [Bính Thìn]; Ibid.,
QT 9, (Sài Gòn: 1960), 1:34-7.
5. ÐVSKTB, Ngoại Kỷ [NK], I:3b-5a, The (1997),
tr. 41. Các nhà nghiên cứu Tây phương thường dẫn như sách của Ngô Thì Sĩ, nhưng
Ngô Thì Nhậm, con Thì Sĩ, cũng góp phần hiệu đính.
6. CM, TB, I:1b-2b (Sài Gòn: 1965), 2:10-5; Quyển
Thủ:3b-4b, 9 (Sài Gòn: 1960), 1:12-7, 34-7 [Dụ Chỉ ngày 12/8/1856 [12/7 TÐ 9];
quyết định chọn Hùng Vương làm đầu mối quốc thống, (chép trong phần Cương, chữ
lớn), phụ chép Kinh Dương và Lạc Long ở phần Mục [chữ nhỏ, ghi chép chi tiết];
ÐVSK, NKTT, I:2a, Thọ (2009), 1:152; Giu (1967), 1:60; Mạc Bảo Thần-Nhượng Tống
(1944, 1964), tr. 34; ÐVSKTB, NK, I:3b, The (1997), tr. 41; Dư Ðịa Chí, 4,
NTTT, 1976:212, 214; Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, [LTHCLC]; bản
dịch (Sài Gòn: 1962); bản dịch (Hà Nội: 1992), 3 tập, 1:166.
7. ÐVSK, NKTT, “Tựa Ðại Việt Sử Ký Tục Biên;” Quyển
Thủ, 2a [1a-6a]; NK, I:1a, Thọ (2009), 1:112, 150-51; “Biểu dâng sách ÐVSKTT,”
Quyển Thủ, 1a-6a, Thọ (2009), 1:115-16; Bản Kỷ Thực Lục [BKTL], XIII:17a, Lâu
(2009), 2:589; Emile Gaspardone, “Bibliographie annamite [Thư tịch An Nam];”
Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extreme Orient [BEFEO], số XXXIV (1934), tr. 59
[No. 127 (VÐULT) [126-28], 128 (LNTQ) [128-30] [1-167]. Hiện nay, có bốn bản dịch
Việt ngữ của Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư: bản dịch Cao Huy Giu (trọn bộ, 1967, dựa
theo bản Quốc Tử Giám Lê Hi [1697]), bản dịch mới nhất, năm 2009, dựa theo Nội
Các quan bản [phủ Chúa Trịnh], Hà Văn Tấn hiệu đính, 4 tập. Xem thêm chi tiết
trong Phan Huy Lê, “Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư: Tác giả, Văn bản, Tác phẩm;”
Ibid., Thọ (2009), 1:29-30 [13-102];
8. Phan Huy Chú, LTHCLC, “Văn tịch Chí,” q. XV,
“truyện Ký,” 1992, 3:164 [163-64]; Henri Maspéro, “Etudes d’histoire d’Annam
[Nghiên cứu lịch sử An Nam], IV. Le Royaume de Van Lang [Vương quốc Văn Lang];”
Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême-Orient [BEFEO], Vol. XVIII (1918), no.
3:1 [1-10]; Iwamura Shigemitsu, An Nan T’ung Chih [An Nam Thông Sử] (tiếng Nhật)
(Singapore: World Bank, 1957), tr. 9-10; Trịnh Văn Thanh, Thành ngữ điển tích
Danh Nhân tự điển, 2 tập (Sài Gòn: Khai Trí, 1966), 1:554. Nguyễn Linh, “Về sự
tồn tại của nước Văn Lang,” Nghiên Cứu Lịch Sử [NCLS] (Hà Nội), số 112
(7/1968), tr. 20-1, 20n2 [19-32]. [bảng so sánh huyền thoại Việt và Mường];
Idem., “Bàn về nước Thục của Thục Phán;” NCLS, 124 (7/1969), tr. 41cột 1
[33-51]; [Sẽ dẫn, Linh, “Văn Lang,” 1968, & “Thục Phán,” 1969]
9. ÐVSK, NKTT, I:5b; Mạc Bảo Thần-Nhượng Tống
(1944, 1964), tr. 59; Giu (1967), 1:64; Thọ (2009), 1:156.
10. CM, TB, I:8a, Sài Gòn: 1965),
1:36-7; ÐVSKTB, NK, I:11, The (1997), tr. 45.
11. ÐVSK, NKTT, I:5a, 5b-11b, Mạc Bảo Thần-Nhượng Tống (1944,
1964), tr. 39-40, 59-60; Giu (1967), 1:63-4 [63-70]; Thọ (2009), 1:155, 156-62;
ÐVSKTB, Ngoại Kỷ, I:9-10, 15, The (1997), tr. 44-5; CM, TB, I:7, 8a (Sài Gòn:
1965), 2:32-5, 36-7; (Hà Nội: 1998), 1:79; Léonard Aurousseau, “La première
conquête chinoise des pays ananmites.” BEFEO, XXIII (1923), pp. 213n3, 239-40 [nhà Thục
tồn tại 3 năm]; Idem., “Notes et Mélanges: Sur le nom de Cochinchine.” BEFEO,
vol 24 (1924), tr. 563-79.
12. CMTB, I:5b (Sài Gòn: 1965), 1:26-7; (Hà Nội:
1998), 1:76-7. ÐVSK, NKTT, I:1a, Thọ (2009), 1:150; Mạc Bảo
Thần-Nhượng Tống (Hà Nội: 1944, Sài Gòn: 1964), tr. 37; Giu (1967), 1:62,
313n5; ÐVSKTB, NK I:1ab, The (1997), tr. 39.
13. Ban
Gu, [Xin] Han-shu [[Tiền] Hán Thư,
History of the Early Han], Bk 95, p.3 verso, col. 13 to p.7 rector (b); Phạm
Việp (Fan Ye, 348-446), Hou Han Shu [Hậu
Hán Thư, History of the Later Han], Bk 116 [“Nam Man truyện,” q. 116]; Lê Tắc [Trắc], An Nam Chí Lược [ANCL], V: Tiền triều thư sớ, bản dịch Chen Ching Ho [Trần Kính Hòa] (dựa trên bản Lạc Thiện Ðường,
Ginko Kishida [Ngạn Ðiền Ngâm Hương] sưu tập và hiệu đính năm 1884) (Huế: Ðại học
Huế, 1961) tr.117-18; Dư Ðịa Chí, số
12; trong NTTT, (Hà Nội: 1976), tr. 216, 562-64; ÐVSK, NKTT, I:1a, 4a, Thọ
(2009), 1:150, 154; Giu (1967), 1:59, 62. Theo Clae Waltham, xe có kim chỉ nam này
là một trong số các huyền thoại về sự tích kim chỉ nam [“This legend of the south-pointing
chariots is one of several concerning the origin of the compass”]; Shu Ching: Book of History (Chicago:
1971), p. 200.
14. Sima Qian [Tư Mã Thiên, 145-86 TTL], Shiji [Sử Ký], q. 113, “Nam Việt
Triệu Ðà truyện;” [Bk 113, “The Account of Southern Yueh”], Shih chi: Records of the Grand Historian of
China, Ssu-ma Ch’ien, trans. into English by Burton Watson (New York:
Columbia Univ. Press, 1961), vol. II, pp. 239-50; ANCL, q. V: Tiền triều thư sớ, (Huế:
1961), tr.117-18; ÐVSK, NKTT, I:1a, Thọ (2009), 1:150; Mạc Bảo Thần-Nhượng
Tống (Hà Nội: 1944, Sài Gòn: 1964), tr. 37; Giu (1967), 1:62, 313n5; CM, TB
I:6b-7a; (Sài Gòn, 1965), 2:28-33; (Hà Nội: 1998), 1:77; Shu (Waltham), 1971, pp.
199-200.
15. Dư Ðịa Chí, số 12; NTTT, (Hà Nội: 1976), tr.
564.
16. ÐVSKTB, Ngoại Kỉ, I:2a-b, The (1997), tr. 40; ANCL, q. V, “Tiền triều thư sớ,” 1961:109.
17. CM TB I:1a, 2a; (Sài Gòn: 1965), 2:8-9, 12-3. Tu Yu [Ðỗ Hữu], Tong dian [Thông điển] (Shanghai: 1935), q. 184, tờ 25b; Hoàn Vũ Kí q. 70, 10a; dẫn trong Maspero, “Van Lang,”
BEFEO, 1918, 3:2, 4 [1-10]; CM, TB I:2a, (Sài Gòn: 1965), 2:12-3;
18. CM TB I:2b-3a, (Sài Gòn: 1965), 2:14-7. Lang bộ “Ấp;” Giao Chỉ (Chỉ
bộ Phụ)
19. ANCL, q. IV: Tiền triều
chinh thảo, q. V, “Tiền triều thư
sớ,” 1961: 91,107-9); Hán chí, Nghiêm Trợ truyện, dẫn trong TKCS, ch 36: “Uất
Thủy,” Mão (2004), tr. 364: ÐVSK, NKTT, II:9a-11a, Thọ (2009), 1:171-73, Giu (1967), 1:79-80, 315n27;
[CM không nhắc gì đến Lưu An hay tờ biểu. ÐVSKTB không chép lại thư. Ngô Thì Sĩ, vì một lý do nào đó, không nói đến luật kẻ mạnh
và tham tâm bành trướng, thôn tính thiên hạ của Hán tộc. Dụng ý có lẽ còn kém
Lê Trắc một bậc–Trắc cổ võ việc hòa hiếu. Vì thế còn chép lại kế hoạch “dĩ man
trị Man” của Lý Cố, hay biểu can Tống Thái Tông của Ðiền Tích]
20. Maspéro,
“Văn Lang,” 1918, 3:2-3, 7 [1-10]; Lâm Ấp Ký, Thái Bình Ngự Lãm, 981 [q. 172, tờ
11b]; Lịch Ðạo Nguyên et al., TKC, ch 36, 24a; Maspéro, “Van Lang,” 1918:2-3
[1-10]; TKCS, ch 36, Mão (2004), tr. 373.
Hoàn Vũ Kí của
Nhạc Sử (930-1007) đời Tống (960-1279)
Lý Phưởng
(Li Fang, 925-996) (tác giả Thái Bình Ngự Lãm),
21. Thông điển, q. 184, tờ
25b, Maspero, “Van Lang,” XVIII, 3:2-4 [1-10].
22. CM, TB, I:2a (Sài Gòn: 1965), 2:12-3;
Maspéro, “Văn Lang,” 1918, 3:4. Theo Louis
Bezacier, đền Hùng Vương có thể thành lập vào đời Lý; Le Vietnam (Paris:
1972), tr. 22.
23. Chính Ðạo, “Trụ đồng Mã Viện: Sự đàn hồi của biên giới đế quốc
Trung Hoa;” Hợp Lưu (Fountain Valley,
CA), số 110 (tháng 6-7/2010), tr.
5-36. Năm 2011, Bắc Kinh chính thức tuyên bố chủ quyền lãnh hải biển Ðông tức
Nam Hải hay Nanpo. Rồi công bố ý định dùng tiền bạc để phát triển kinh tế Ðông
Nam Á qua những hiệp ước tay đôi với các nước thành viên Ðông Nam Á. Chỉ có Ngoại
trưởng Hillary Clinton của Liên Bang Mỹ tỏ ý chống đối. Ba trong những quốc gia
đang đối diện hiểm họa bành trướng thực dân xã hội chủ nghĩa Hán tộc là Nhật Bản, Philippines,
và Australia.
Nếu Trung Nam Hải có khả năng làm nhái hàng không mẫu hạm mua của Cộng hòa Nga,
Hawaii có thể trở thành một tiền đồn của Liên Bang Mỹ tại Thái Bình Dương.
Không phải vô tình mà Ngoại trưởng Hillary Clinton cảnh giác Bắc Kinh, và gửi một
đơn vị Mỹ tới Australia. Ôn Gia Bảo [Wen Jiabao] đang hành xử như một tội phạm
chiến tranh ở Tibet
và Ðông Nam Á.
24.
ÐVSK, BKTT, I:17ab [Lê Hoàn, 986], II:4b, Thọ (2009), 1:271-72, 298; Giu
(1967), 1:190, 192, 332; ÐVSKTB, BK, I:23ab [Lê Hoàn, 986], II:2a, 7b [Lý Công
Uẩn], The (1997), tr. 169, 193 [nhà Lê hay nhà Lý có khác gì nhau], 198; CM,
CB, II:9, (Hà Nội: 1998), 1:285; LTHCLC, q. 46, 1992, 3:188-89.
25. Ðại Việt Sử Lược [vô danh]; dẫn trong Maspero, “Van Lang,” XVIII (1918), 3:7. Gia Ninh nằm trong khoảng Bắc Ninh hay Hà Bắc ngày nay]. Maspéro đã
giới thiệu Ðại Việt Sử Lược khi bàn về danh sách 15 bộ nước Văn Lang; “Van Lang,;” XVIII
(1918), 3:4 [1-10];
26. ÐVSK, NKTT,
I:3a, Thọ (2009), I:153; Giu (1967), 1:61; CM, TB I:3-4b (Sài Gòn: 1965),
2:16-23; Dư Ðịa Chí, số 1 & 9 [Kinh Dương Vương, Xích Quỉ; Hùng Vương, Văn Lang, Phong Châu ...;;
NTTT, (1976), tr. 211 [211-46], 215, 543-44. Ðáng ghi nhận là thói quen sửa chữa hay thêm vào truyền bản cổ
thư của người đời sau khiến giá trị Dư Ðịa Chí là những dấu hỏi lớn. Thí dụ như
Dư Ðịa Chí số 2, nói Kinh Dương Vương được phong sang “Việt Nam” [tr. 211]; Dư
Ðịa Chí số 13 ghi trong sách chương [văn kiện ngoại giao] của Bắc triều lúc gọi
nước ta là Việt Nam [Ðế Minh phong Kinh Dương Vương làm Việt Nam Vương], Nam Việt,
Giao Chỉ, An Nam, Nam Bình; nay cũng gọi là Việt Nam; [tr. 216]; CMTB, I:3a-5a,
(Sài Gòn: 1965), 2:16-25; Maspéro, “Văn Lang,” (1918), 3:1.
27. [Phân quốc
vi thập ngũ bộ]; Dư Ðịa Chí, số 3 & 9, NTTT (1976), tr. 212, 215 [211-46, chỉ chép 14 bộ, không có Văn
Lang], 544 [543-662]. ÐVSK, NKTT dựa theo danh
sách này. [Maspéro,
1918, 3:4]; ÐVSK, NKTT, I:3a, Thọ (2009), 1:153; Giu (1967), 1:61; CM, TB
I:3a, 4b-5a (Sài Gòn: 1965), 2:16-7, 22-5. Việt Sử Lược hay Ðại Việt Sử Lược,
ghi Nhật Nam
thay vì Tân Hưng; q. 1, tờ
1a; Ibid, p. 544; Maspéro, “Van Lang,” (1918), 3:4-5; [1-10].Iwamura Shigemitsu, An Nam Thông Sử [An Nan T’ung Chih] (Singapore: World Bank, 1957),
tr. 9-10 [có danh sách 18 vua Hùng, và bản đồ đời Hán dựa theo tư liệu Trung
Hoa]. Xem thêm ÐNNTC, q. XXI:
Sơn Tây (1997), 4:184-85, 224 (thành cổ Kinh Dương Vương), 226 (thành cổ Bình
Ðạo), 234 (miếu Hùng Vương) [183-264], và Ibid., q. XIX: Bắc Ninh (1997), tập 4:54
(bộ Vũ Ninh đời Hùng Vương; đời Hán là Luy Lâu và Long Biên (Giao Chỉ); Bắc
Giang thời Tiền Lê; Gia Lâm đời Lý; Bắc Giang hay lộ Kinh Bắc đời Trần; Bắc
Giang và Lạng Giang thời Minh thuộc; 82-3 (sông Nguyệt Ðức tức sông Cầu), 83
(sông Thiên Ðức, tức sông Ðuống), 84-5 (Nhật Ðức tức sông Thương), 85 (sông Lục
Ðầu, nước ba sông Nguyệt Ðức tức sông Cầu, Thiên Ðức, tức sông Ðuống, Nhật Ðức
tức sông Thương, đổ vào sông Phan tỉnh Hải Dương; 91 (Cổ Loa), 93-4 (giếng cổ
Minh Châu), 119 (Nguyễn Thiên Tích, huyện Tiên Du), 120 (Nguyễn Thiên Túng,
huyện Ðông Ngàn)[53-152] ; q. XV: Tỉnh Hưng Yên (1997), 3:286 (Sơn Nam thượng
và hạ; Chu Diên đời Hán), 296 (sông Ðuống tức Phổ Ðà hay Ðà Lỗ), 296-97, 306
(sông Luộc, tây bắc huyện Hưng Nhân 7 lí)
Lưu Triệt sai Lộ Bác Ðức đánh Nam Việt năm
Nguyên Ðỉnh 6 [111 TTL]; Shiji [Sử Ký], q. 113, tờ 6a; Tiền Hán Thư, q. VI, tờ
15b-16b;
28. Lê Quí Ðôn, VÐLN, q. III, “Khu Vũ Loại,” số 83, (Sài Gòn:
1973?), tr. 167 [165-67]; CM, TB, 4b, (Sài Gòn: 1965), 2:22-3), [VNC: Maspéro đã
tham khảo tài liệu này]
29. Dư Ðịa Chí, số 2, & 13; NTTT, (Hà Nội: 1976), tr. 211,
216; CM, TB, I:3a-5a, (Sài Gòn: 1965), 2:16-25 [ghi Quảng Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc, Vân
Nam, Tứ Xuyên là đất Thục và Sở ngày xưa].; Maspéro, “Văn Lang,” (1918), 3:1.
30. ÐVSK,
NKTT, I, Mạc Bảo Thần-Nhượng Tống (1944, 1964), tr. 56; ANCL, q. III:
Tiền triều phụng sứ, Tống sứ, 1961:82-3 [Tống Cảo & Vương Thế Tắc]; Hành
lục của Tống Cảo [ca 990]; LTHCLC, q. XLVI, 1992, 3:166; CM, CB I:24-26, (Hà
Nội: 1998), 1:258-59)
31. “Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư Tự;” [Tựa sách Ðại Việt Sử Ký Ngoại Kỷ
Toàn Thư]; [1479]” ÐVSK, NKTT, Quyển Thủ, 2ab [1a-3b], 4a-5a, Thọ et al (2009),
1:51, 113 [112-16]; 153-54, 154-55; Mạc Bảo Thần-Nhượng Tống (1944, 1964), tr.
37; Giu (1967), 1:61, 62-3. Xem thêm bảng so sánh huyền thoại Việt và Mường trong Nguyễn
Linh, “Văn Lang,” NCLS (Hà Nội), (7/1968), tr. 20-1 [19-32].
Lĩnh Nam Trích Quái và Việt Ðiện U Linh Tập đã được Lê Hữu Mục dịch
qua chữ Việt mới (quốc ngữ hiện nay) (Ấn bản Khai Trí, Sài Gòn). Xem thêm ÐVSKTB, Ngoại
Kỷ, I:2-4, 5b-7, The (1997), tr. 40, 42-5 [lời bàn của Ngô Thì Sĩ]; Gaspardone,
“Bibliographie annamite [Thư tịch An Nam];” BEFEO, số XXXIV (1934), No. 127 (VÐULT) [126-28], 128 (LNTQ) [128-30] [1-167]; Maspéro,
“Etudes d’histoire d’Annam [Nghiên cứu lịch sử An Nam], I. La dynastie des Lí antérieurs (543-601); II. La géographie politique de
l’Empire d’Annam; III. La commanderie de Siang; BEFEO, Vol. XVI (1916-1917), pp. 1-26, 27-48. 49-55; Idem., IV. Le Royaume de Van Lang [Vương quốc Văn Lang];” BEFEO, XVIII (1918), 3:4
[1-10].
32. “Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư Tự;” [Tựa sách Ðại Việt Sử Ký Ngoại Kỷ
Toàn Thư]; [1479]” ÐVSK, NKTT, Quyển Thủ, 2ab [1a-3b], 4a-5a, NK Iá:1a,á1b, 2b;
Thọ (2009), 1:51, 113 [112-16]; 151 [Liễu Nghị trong Ðường Kỷ], 152 [khác thường],
153-54, 154-55; Mạc Bảo Thần-Nhượng Tống (1944, 1964), tr. 13-5, 37; Giu (1967), 1: 59-60; 61, 62-3; Phan Huy Lê, 2009:29-30) Xem thêm
CM, TB, Quyển Thủ:3b-4b, (Sài Gòn: 1960), 1:12-7; Ibid., I:1A, (Sài Gòn: 1965), 2:8-9.
33. ÐVSK, NKTT, I:3a, Thọ (2009), 1:153; “Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư
Tự;” [Tựa sách Ðại Việt Sử Ký Ngoại Kỷ Toàn Thư]; [1479]” ÐVSK, NKTT, Quyển Thủ,
2ab [1a-3b], 4a-5a, Thọ et al (2009), 1:51, 113 [112-16]; 153-54, 154-55; Mạc Bảo
Thần-Nhượng Tống (1944, 1964), tr. 37; Giu (1967), 1:62,
34. Ðại Nam Thực Lục Tiền Biên [ÐNTLTB], I, 1962, 1:34-6; X: Thế Tông,
1962, 1:204-6 [201-29]; Chính Biên [ÐNTLCB], I, 3:254 [“vô vi nhi trị” của
Nghiêu Thuấn], 282 [“Thiên tử là quí, châu ngọc có quí gì.”], 283-85 [Gia Long lên
ngôi Hoàng đế ngày 28/6/1806 [Kỷ Mùi [12]/5 Bính Dần]; ÐVSK, BKTB, XVI, Giu
(1967), 3:160; CM,CB, XXVIII:31-32; (Hà Nội: 1998), 2:157-58 [ghi là tháng
Giêng Nhâm Thân, [15/1-13/2/1572]); Dư Ðịa Chí (1935), số 53; NTTT (1976), 245;
ÐVSK, BKTL, XI:55b-56a, 56ab, Lâu (2009), 2:443 [Lê Thái Tông [Lê Lân] chết
ngày 7/9/1442 [4/8 Nhâm Tuất]: Ghé thăm nhà Thừa chỉ Nguyễn Trãi. Dọc đường từ
Côn Sơn về Ðông đô vua bị bệnh “sốt rét” tại trại Vải [Lệ chi viên], làng Ðại
Lại, Gia Ðịnh (tức huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Có vợ lẽ Nguyễn Trãi là Nguyễn
Thị Lộ vào hầu suốt hai đêm, nhưng vua vẫn chết ngày 7/9/1442 [4/8 Nhâm Tuất]. 19/9/1442 [16/8 Nhâm Tuất]: Nguyễn Trãi và
Nguyễn Thị Lộ bị làm tội chết, cả ba họ bị tru di; 444 [Ðinh Thắng và Ðinh Phúc
bị giết ngày 22/10/1442 [9/9 Nhâm Tuất]; Peter
K. Bol, Neo-Confucianism in History (Cambridge, Mass.: Harvard Univ. Asia
Center, 2008) [li: principle, Wang Anshi’s New Policies, Wang Yang-ming, Cheng
Yi, Chu Xi a theory of communal action].
35. Hoàn Vũ Kí, q. 170, tờ 9a, 10a; Maspéro, “Van
Lang,” 1918, 3:7 [vua nước đó gọi là Hùng Vương];
36. Lê Quí Ðôn, VÐLN, q.
III, “Khu Vũ Loại,” số 66, 1973:147.
37.
ÐVSK, NKTT, Mạc Bảo Thần-Nhượng
Tống, tr. 70, chú 2; CM TB, I:9A; (Sài Gòn: 1965), 2:40-1. Hùng
trong sử Nguyễn [CM, TB, I:1a, 2b (Sài Gòn: 1965), 2:8-9, 14-5]
khác Hùng bộ Hỏa [con gấu, dũng sĩ; Thiều Chửu, 373-74; chỉ các vua Sở]
38. Ðại Việt Sử Lược [vô danh]; dẫn trong Maspéro, “Van Lang;” (1918),
3:7 [1-10]; Gaspardone,
“Bibliographie annamite [Thư tịch An Nam];” BEFEO, số 34 (1934), tr. 126-30;
Nguyễn Linh, “Về sự tồn tại của nước Văn Lang,” Nghiên Cứu Lịch Sử [NCLS] (Hà
Nội), số 112 (7/1968), tr. 20-1 [19-32]. [bảng so sánh huyền thoại Việt và Mường].
39. Lạc [Lo]: bộ Mã [lạc đà; Thiều Chửu, 780]
40. TKC, q. 37, tờ 7a; TKCS, Mão (2004), tr. 427-28; ÐVSK, NKTT,
Giu (1967), 1:314n13, 16; Maspéro, “Van Lang,” (1918), 3:7;
41. Lạc bộ Mịch. CMTB, I:22b-23a (Sài Gòn: 1965), 2:96-7. [Không
chép chữ Lạc: Nãi tự lập vi Nam Việt hoàng đế, phát binh công Trường Sa biên ấp,
thủ số quận nhi hoàn. . . Vương nhân thử dĩ binh uy tài vật, chiêu phủ Mân Việt, Tây Âu dịch
thuộc yên. Ðông tây dư vạn lí, thừa hoàng ốc tả đạo, xưng chế dữ Hán tịnh]. CM, TB I:25a (Sài Gòn: 1965), 2:104-5chú 1 [giải thích Phục Lĩnh:
bên ngoài cõi hoang, phía nam Ngũ Lĩnh; ngũ phục điện, hầu, tuy, yêu, hoang].
42.
Sử Ký Sách Ẩn, q. 113, tờ 1b; Maspéro, “Van Lang,” (1918), 3:7, 8-9; (Thủy Kinh
Chú Sớ [TKCS], ch 37; Mão (2004), tr. 427-28
[An Dương Vương])
43. Lê Quí Ðôn, VÐLN, q. III, “Khu Vũ Loại,” số
66, 1973:147, nhắc đến Việt chí [và Giao Châu Ký] [đã tuyệt bản; Maspéro, 1918,
3:6] của Tăng Cổn–người thay Cao Tầm [không phải Biền] làm Ðô hộ từ 878 tới
880, đời Lý Nghiễm (Ðường Hy Tông, 874-888) [không phải “tiết độ sứ đời Ý Tông
(860-870) [số 66, 1973:147]. Maspéro tin rằng Việt Ðiện U Linh tập chép lại nhiều
đoạn trong Giao Châu Ký của Tăng Cổn. Maspéro, 1918, 3:6n2.
ANCL, q. IV, “Tiền triều chinh thảo;” 1961, tr. 91; q.II, “Tiền
triều thư mạng;” Ibid., tr. 63 [thư Lưu Hằng [Hán Văn đế, 179-157 TTL] gửi Triệu
Ðà [Zhao Tuo]; ÐVSK, NKTT, II:3b, Thọ (2009), 1:166. [Năm 183 TTL, sau khi Lữ
Thái Hậu cấm vận kinh tế [đồ sắt và trâu], Triệu Ðà xưng đế, mang quân đánh Trường
Sa. Năm 181 TTL, Lữ Thái Hậu sai Chu Táo qua đánh, nhưng thất bại. Triệu Ðà
nhân cơ hội mở rộng bờ cõi, liên kết với Mân Việt (Min-yue), Tây Âu (Ouxi hay Western Wou) và Lạc (Lo-lo). Rồi bắt chước các phong tục, lễ nghi của triều Hán].. Tháng 7 Tân Dậu
[179 TTL], Lữ Thái Hậu chết. Lưu Hằng
lên ngôi. Sai Lục Giả mang thư sang thuyết phục Ðà bỏ tước đế, lấy Trường Sa
làm ranh giới phía nam, ÐVSK, NKTT, II:4a-5a, Thọ (2009), 1:166-67. Ðà đồng ý,
viết thư xin nội phụ; Ibid., II:5a-6a; Ibid., Thọ (2009), 1:168. Dư Ðịa Chí, số
9, NTTT, 1976:215; ÐVSKTB, The (1997), tr. 55. Nhóm phiên dịch của Ðại học Huế
cũng dùng Tây Âu Lạc; (1961:113 [Hán], 187 [Việt]).
44. CM TB I:2b-3a, (Sài Gòn: 1965), 2:14-7. Lạc bộ Mã; Lang bộ “Ấp;” Giao Chỉ
(Chỉ bộ Phụ)
45. Maspéro, “Van Lang,” 1918, 3:7-9; Hoàn Vũ Kí, q. 170, tờ 9a, 10a;
Lĩnh Nam Chích Quái ghi Lạc hầu, Lạc tướng, nhưng Hùng vương [LNTQ, q. 1, 15a;
Maspéro, “Van Lang,”1918, 3:7] Truyện Sơn Tinh-Thủy Tinh của ÐVSKTT sao chép và
tỉnh lược truyện cùng tựa trong Việt Ðiện U Linh Tập, mà nguồn gốc là tập Giao
Châu Kí của Tăng Cổn., Maspéro, “Van Lang,”1918, 3:8].
46. ÐVSK, NKTT, I, Giu (1967), tr. 314chú13 [Hùng vương do Lạc vương
viết sai]; Cổ sử Việt Nam [Hà Nội: 1956], tr. 83-4, Nguồn gốc dân tộc Việt Nam, tr. 86;
dẫn trong Văn Tân, “Vài ý kiến với nhận định của ông Ðào Duy Anh về vấn đề
tô-tem của người Việt nguyên thủy;” Nghiên cứu lịch sử (Hà Nội), Bộ 2, số 4
(4/1959), tr. 15-16, 18 [10-25]. Văn Tân cho rằng Ðào Duy Anh đã vay mượn những
nhận định võ đoán thiếu cơ sở khoa học [tr. 14-15] từ những học giả “phản động
Pháp” như Louis Finot, “Les grandes époques de l”Indochine;” Goloubew, “L’Âge
du bronze au Tonkin et dans le Nord-Annam;” và Maspéro.
47. Léonard Aurousseau,
“La première conquête chinoise des pays ananmites.” BEFEO, XXIII (1923), tr. 213n3, 239-40: [nhà Thục tồn tại 3 năm]; Idem., “Notes et Mélanges: Sur le nom de
Cochinchine;” BEFEO, vol 24 (1924), tr. 563-79. Xem Frances Wood, Did Marco Polo Go to China? (Boulder, Colorado:
Westview Press, 1996), về giá trị sử học của Polo.
Theo Marco Polo, Polo
tới Trung Hoa vào đời Hốt Tất Liệt hay Qublai Khan (1260-1294), ở lại 17 năm.
Polo được Hốt Tất Liệt cho chu du khắp vương quốc, rồi bổ nhiệm làm Tổng đốc Yangzhou (Dương Châu). Về
nước, viết cuốn Description of the World (Những Kỳ quan của thế giới) trong tù.
Tự nhận được Hốt Tất Liệt cử làm sứ giả gặp Giáo hoàng Ki-tô ở Roma.
Wood, một học giả Mỹ,
cho rằng Marco Polo đã bịa đặt, chưa bao giờ đặt chân tới Trung Hoa, và tác
phẩm của Polo chỉ là sự tổng hợp những huyền thoại nghe được tại Persia (Ba Tư).
Polo không nói lên được những đặc thù của Trung Hoa vào thời gian này: Vạn Lý
Trường Thành, súng bắn đá và thành Tương Dương, những món đồ sứ đặc thù của thế
kỷ XIII, tục ưa ăn ngon của người Hoa, đặc sản của Suzhu (Tô Châu), v.. v... Wood ví Polo như một thứ
Herodotus (480-425 TTL), “người chưa từng đặt chân tới những địa danh mà ông ta
mô tả và trộn lẫn giữa sự kiện với chuyện hoang đường.” (tr.
150)
48. Vũ Ngự Chiêu, “Nhìn Lại Hoàng Sa;” Hợp Lưu (Fountain
Valley, CA), Xuân Canh Dần, số 108
(1-2/2010), tr. 5-25; Chính Ðạo, “Trụ đồng Mã Viện: Sự Ðàn Hồi của Biên Giới Ðế
Quốc Trung Hoa;” Hợp Lưu (Fountain
Valley, CA). số 110,
tháng 6-7/2010, tr. 5-37.
49. KCH, 2007:53-4)
50. P. I. Boriskokii, “Viet Nam in Primevial Time;” Soviet Anthropology
and Archeology (Moscow),
Vols. 7, 8 & 9 (1968-1970; “Bình luận ý kiến của Per-Sfrensen [Sorensen] về
địa điểm sơ kỳ đá cũ Núi Ðọ;” Khảo Cổ Học [Hà Nội], (1981), số 4, tr. 11-4).
51.
R. B. Smith và W. Watson, Early South East Asia, (New York: Oxford Univ. Press,
1979), tr. 120).
52. KCH, 2007:56-7)
53. “Vài ý kiến về một
số vấn đề khảo cổ học trong quyển Kinh tế thời nguyên thủy ở Việt Nam;”
NCLS, số 136 (1/1971), tr. 45-52, 64).
54. Smith và Watson, Early
South East Asia, 1979, tr. 126, 127, 128, 129, 130, 131, 133).
55. Xem thêm Lê Văn Lan,
“Tài liệu khảo cổ học và việc nghiên cứu thời đại các vua Hùng;” NCLS (Hà-nội),
Bộ 124, số 7 (7/1969), tr. 52-79; Lê Văn Lan, “Về tục hỏa táng ở thời đại của
các vua Hùng;” NCLS, số 132 (5-6/1970), tr. 74-80; Lê Văn Lan và Phạm Văn Kỉnh,
“Di tích khảo cổ trên đất Phong châu, địa bàn gốc của các vua Hùng;” NCLS, Bộ
107, số 2 (2/1968), tr. 34-46].
56. Smith và Watson,
Early South East Asia, 1979, tr. 131).
57. CM, TB, I:25b-26a
(Sài Gòn: 1965), 2:106-9; ÐVSK, NKTT, II:5a-6a, Thọ (2009), 1:168 [Thư Triệu Ðà
gửi Lưu Hằng (Văn Ðế) năm 179 TTL]. Xem thêm Diệp Ðình Hoa, “Sơ kỳ thời đại đồ
sắt ở nước ta và vấn đề Hùng Vương-An Dương Vương;” NCLS (4/1969).
58. Olov R.T. Janse,
Archeological Research in Indochina, 3 vols [Cambridge: 1947]),
59. William Meacham,
“The Archeology of Hongkong;” Archeology,
33:4 (7-8/ 1980), tr. 16-23; “Local Revolution and Continuity in the Neo-lithic
of South China: A Non-Nuclear Approach;” Current Anthropology, 18 (1977), tr.
419-40. Xem thêm Karl L. Hutterer, “An Evolutionary Approach to the Southeast
Asian Cultural Sequence;” Current
Anthropology, 17:2 (June 1976), tr. 221-42).
60. Hội nghị khoa học:
“Phê phán quan điểm bành trướng, bá quyền của giới sử học Trung Quốc xuyên tạc
lịch sử Việt Nam;”
Nghiên Cứu Lịch Sử, số 2 [221] (1985), tr. 88-9 [87-90]
61. Victor Goloubew,
“L'âge du bronze au Tonkin et dans le Nord Annam;” BEFEO, XXIX [1930], tr. 28.
62. Văn Tân, “Vài ý kiến
với nhận định của ông Ðào Duy Anh về vấn đề tô-tem của người Việt nguyên thủy.”
NCLS (Hà Nội), Bộ 2, số 4 (4/1959),
tr. 24-5 [10-25]; Idem.,, “Ý kiến trao đổi: trở lại vấn đề tô-tem của người
Việt.” NCLS [9/1959?], tr. 66-79.
Văn hoá Phùng Nguyên
(Kinh Kệ/Lâm Thao/Vĩnh Phú), khai quật năm 1959-1960. Sau đó một số di tích
khác ở Vĩnh Phú và Hà Tây. [Niên đại: 2,000-1,500 TTL (hậu kỳ thời đá mới) sau đó,
xếp thành “thời đồng thau.” LVLan: cuối thời đá mới, đầu thời đồng thau. Lê Văn
Lan. “Tài liệu khảo cổ học và việc nghiên cứu thời đại các vua Hùng.” NCLS (Hà-nội), Bộ 124, số 7 (7/1969), tr. 52-79.
63. ÐNNTC, q. XVIII, “Quảng Yên,” 1997, 4:
[5-51]; q. XXIV, “Lạng Sơn,” 1997, 4: [365-400];
64. Thư Tống Thái Tông,
do Vương Vũ Xương soạn, gửi Lê Hoàn [năm thứ 5 đời Tống Thái Tông (980)]; ANCL,
q. V, Tiền triều thư sớ, 1961:115-16 [trích Tống Sử]; ÐVSK, BKTT, I:10a-12a,
Giu (1967), 1:162-64, 166ff; Thọ (2009), 1:263-65; ÐVSKTB, Bản Kỷ, I:15a-15b;
The (1997), tr.162-63; LTHCLC, q. 49, “Việc Biên Cương;” 1992, 3:275-76; Người đưa
thư là Lư Ða Tốn; CM, CB I:16, (Hà Nội: 1998), 1:250-51. Sử Ký, q. 113, 2a;
BEFEO, 1916, 1:53; Maspéro, “Van Lang,”1918, 3:10];