
Giáo sư Phạm Cao
Dương
Giáo sư Phạm Cao
Dương tốt nghiệp ĐH Sư phạm, ĐH Văn khoa Sàigòn và Tiến Sĩ Sử học tại Pháp. Ông
từng giảng dạy tại các trường Đại học Sư Phạm Sàigòn, Đại học Văn Khoa Sàigòn
và là giáo sư thỉnh giảng tại các đại học Đà Lạt, Huế, Cần Thơ, Vạn Hạnh và Cao
Đài. Định cư tại Hoa
kỳ từ năm 1975, ông tiếp tục giảng dạy các môn lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ
Việt nam trong gần ba chục năm qua tại các trường UCI, UCLA, Cal State Long
Beach, Santa Ana College…
Trong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc
Việt Nam
trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời
chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng
Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người
Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ
Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng
3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn. Bài này nhằm bổ
khuyết cho tình trạng thiếu sót đó, đồng thời phân tích nội dung và ý nghĩa của
từng bản.
TUYÊN NGÔN CỦA BẢO ĐẠI
Hoàn cảnh được công bố
Bản tuyên ngôn độc Lập của Bảo Đại được công bố
ngày 11 tháng 3 năm 1945, hai ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và
sau một thời gian dài hơn bốn năm, từ tháng 9 năm 1940, sau khi quân Nhật vào
phần đất này của Đông Nam Á và gần năm tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng và Thế
Chiến Thứ Hai kết thúc. Trong thời gian này Việt Nam bị sống dưới sự cai trị
của cả người Pháp, từ sau khi Hòa Ước 1884 được ký kết, lẫn người Nhật, từ ngày
22 tháng 9 năm 1940, với một hậu quả khủng khiếp là Trận Đói Tháng Ba Năm Ất
Dậu. Hoàn cảnh này đã làm cho không chỉ riêng những người Cộng Sản, vốn chủ
trương đánh đổ chế độ quân chủ để cướp chính quyền (chữ của chính người Cộng
Sản) để từ đó thực thi cách mạng vô sản mà luôn cả những người không có cảm
tình với chế độ quân chủ đương thời và chủ trương lật đổ chế độ này để thay thế
bằng một chế độ dân chủ, không nhìn nhận giá trị đích thực của nó. Bảo Đại bị
coi như một ông vua bù nhìn, trước kia trong tay người Pháp và lúc đó trong tay
người Nhật. Theo họ trước kia người Pháp bảo sao, ông làm vậy và sau đảo chính
9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bảo ông tuyên bố độc lập thì ông tuyên bố độc
lập, thế thôi. Người ta hiểu hay được học đơn giản như vậy. Nền độc lập mà Bảo
Đại tuyên bố chỉ là do người Nhật ban cho và bản tuyên ngôn của ông chẳng có
một giá trị gì trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của người Việt. Thực chất
của nó chỉ là sự tuyên bố công khai việc thay thầy đổi chủ của triều đình Bảo
Đại(1) không hơn không kém. Sự thực không đơn giản như vậy. Người Nhật có lý do
làm đảo chính lật đổ người Pháp và Bảo Đại có lý do phải chấp nhận yêu cầu của
người Nhật tuyên bố Việt Nam
độc lập. Lý do của Bảo Đại đã được ông giải thích khi tiếp kiến Trần Trọng Kim
và cố gắng thuyết phục ông này chấp nhận làm thủ tướng đầu tiên của chính phủ
Nam Triều độc lập. Nguyên văn câu nói được Trần Trọng Kim kể lại như sau:
-Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta,
nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong
hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên Bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp
ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi
việc.(2)
Người ta cần phải nhớ là hơn mười năm trước đó,
sau khi du học từ Pháp về tới Huế được hai ngày, ngày tháng 10 tháng 9 năm
1932, Bảo Đại đã ra Dụ số 1 tuyên bố chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ
của Nam Triều hủy bỏ Quy Ước 6 tháng 11 năm 1925 do Hội Đồng Phụ Chính, đứng
đầu là Tôn Thất hân, ký với Toàn Quyền Đông Dương thời ông còn nhỏ tuổi và đang
du học bên Pháp, tước bỏ hầu hết các quyền hành còn lại của nhà vua trừ các
quyền có tính cách nghi lễ, ân xá, sắc phong, tế lễ...kèm theo nhiều dụ khác
nhằm thực hiện những cải cách qui mô trong nền hành chánh của chính phủ Nam
Triều, nhưng đã bị người Pháp ngăn cản và bị thất bại. Đảo chính 9 tháng 3 năm
1945 và lời yêu cầu tuyên bố độc lập của người Nhật dù gì đi chăng nữa cũng là
điều vị hoàng đế còn trẻ tuổi từ lâu mong đợi. Ngoài ra theo nhận định và giải
thích nhằm thúc đẩy Trần Trong Kim chịu khó lập chính phủ mới. Ông nói :
-Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ
hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc
lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách
cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố
lập thành một chính phủ để lo việc nước.(3)
Hai tiếng cơ hội Bảo Đại dùng ở đây cho ta thấy
ông từ lâu mong có dịp này. Đồng thời ông cũng hiểu rằng nền độc lập mà ông
tuyên cáo chưa phải độc lập hẳn. Chưa hết, tuyên bố rồi ông còn có nhu cầu phải
tỏ ra có đủ tư cách để độc lập và nhất là để tránh không để cho người Nhật lập
cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Một sự e ngại chỉ có
những người có kiến thức về lịch sử và chính trị học mói biết được. Ngoài ra
những tiếng rất có hại cho nước ta cũng cho người ta thấy đối tương của hành
động tuyên cáo độc lập của ông không phải lả ngôi vua mà là đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, đất nước của ông và thần dân
của ông. Cái nhìn và quan điểm này cũng như sự hiểu biết của ông về tình hình
thế giới và thế tất bại của người Nhật về sau đã được ông nói rõ trong hồi ký
của ông. Riêng đối với người Nhật, ông đã không tin tưởng ở họ cũng như chiêu
bài Đại Đông Á của họ. Nói cách khác Bảo Đại ở vị thế phải chấp nhận nhập cuộc
dù ông hiểu rõ sự phức tạp của vấn đề. Phần khác như ông cũng nói tới trong hồi
ký của ông: Độc lập là ước mơ của tất cả mọi người Việt Nam thời đó.
Nội dung bản Tuyên ngôn
Đây là một bản văn tương đối ngắn so với những
bản văn cùng loại, nhằm ba mục tiêu chính yếu là hủy bỏ hòa ước Triều Đình Huế
đã ký với nước Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập, đứng vào khối Đại Đông Á trong
chương trình phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng thành của
nước Nhật với nguyên văn như sau:
Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng
cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước
Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.
Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho
xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á,
đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung.
Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng
thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản
trong nước để cho đạt được mục đích như trên.(4)
Bản Tuyên Bố được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945
tức ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng
thư phó thự.
Đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập này của Bảo
Đại, người ta cần chú ý tới những chi tiết sau đây:
Thứ nhất: Điều ước bị hủy bỏ ở
đây là Hòa Ước Giáp Thân được ký kết giữa Triều Đình Huế và người Pháp ngày 6
tháng 6 năm 1884, đặc biệt hai điều khoản là điều khoản thứ nhất, theo đó Việt
Nam công nhận và chấp nhận Quyền Bảo Hộ của nước Pháp và điều khoản thứ mười
lăm, theo đó nước Pháp cam kết bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ của các xứ do vua
Việt Nam cai trị và bảo vệ nhà vua chống lại những sự xâm nhập từ bên ngoài và
những cuộc nổi loạn từ bên trong...(5). Sự hủy bỏ này phải được hiểu là do
người Pháp bất lực không bảo vệ được Việt Nam trước sự bành trướng của quân
đội Nhật và cuối cùng là chính họ đã bị người Nhật lật đổ trong cuộc Đảo Chính
9 tháng 3 năm 1945. Sự hủy bỏ này cũng có tính cách đơn phương từ phía Bảo Đại
với tư cách là người kế vị chính thống của Triều Đình Nhà Nguyễn căn cứ vào
những gì đã xảy ra vào thời điểm này. Điểm cần được lưu ý ở đây là từ ngữ hòa
ước trong văn kiện này được dùng theo số ít, trong tiếng Việt, không có chữ các
đi kèm và trong tiếng Pháp không có chữ s theo sau. Điều này có nghĩa là bản
tuyên cáo chỉ hủy bỏ hòa ước bảo hộ tức Hòa Ước Giáp Thân 1884 mà thôi thay vì
hủy bỏ tất cả các hòa ước đã được ký kết trước đó. Đó là các Hòa Ước Nhâm Tuất
1862 và Hòa Ước Giáp Tuất 1874 liên hệ tới xứ Nam Kỳ. Vấn đề thâu hồi xứ Nam Kỳ
do đó đã trở thành mối bận tâm và một phần hành quan trọng của chính Bảo Đại
ngay từ buổi nhà vua tiếp kiến Đại Sứ nhật Yokoyama liên hệ tới việc tuyên cáo
độc lập và của chính quyền Bảo Đại - Trần Trọng Kim trong gần suốt thời gian
tồn tại. Xứ Nam Kỳ chỉ được người Nhật trao trả trong những ngày cuối của chính
quyền này.
Thứ hai: Nước Việt Nam sẽ gắng sức
tự phát triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập....giúp cho cuộc thịnh vượng
chung. Câu này xác định phương thức hoạt động nhăm thực hiện tư cách độc lập
(tự phát triển như một quốc gia độc lập không phụ thuộc vào nước ngoài cho xứng
đáng một quốc gia độc lập) và thế đứng của Việt Nam trên trường quốc tế (tự coi
mình là một phần tử Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung).
Nên để tới khẩu hiệu Châu Á của Người Á do người Nhật đưa ra trong thời này,
một khẩu hiệu hàm chứa sự độc lập của các nước Á Châu lúc đó là thuộc địa của
các đế quốc Âu Châu. Đây cũng là một cách nói trước một cách khéo léo để ngăn
chặn trước sự can thiệp vào nội tình Việt Nam của người Nhật.
Thứ ba: Chính phủ Việt Nam một
lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc...Câu này nhằm buộc chặt lời hứa của
người Nhật bằng cách nhấn mạnh vào sự trung thành với những gì họ đã nói của
họ, một truyền thống chung của các dân tộc Á Đông.
Thứ tư: quyết chí hợp tác với
nước Nhật đem hết tài sản trong nước để đạt được mục đích như trên. Mục đích
như trên là mục đích gì? Phải hiểu mục đích này bao gồm hai phần là tự tiến
triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và giúp cho cuộc thịnh vượng chung như
là một phần tử Đại Đông Á.
Nói cách khác, đây là một bản văn tuy ngắn ngủi,
cô đọng nhưng rất quan trọng vì nó vừa mang tính cách pháp lý, có liên hệ tới
nhiều văn kiện ngoại giao khác đã được hình thành trước đó, vừa biểu lộ chủ
trương của một quốc gia được trao trả độc lập trong một hoàn cảnh không nhận
không được, vô cùng tế nhị và phức tạp vào lúc tình hình thế giới biến chuyển
quá nhanh và hoàn toàn bất lợi cho quân đội và quốc gia đảm nhận sự trao trả
nền độc lập này. Mỗi điều nói ra, mỗi chữ được viết đều đòi hỏi người soạn thảo
phải vô cùng thận trong và ước tính kỹ càng.
Ai là tác giả của bản tuyên ngôn này?
Người được nói đến nhiều nhất là Phạm Quỳnh, lúc
đó đang giữ chức thượng thư bộ lại. Điều này có nhiều phần đúng nếu người ta để
ý tới khả năng nghị luận và viết văn, viết báo kèm theo sự hiểu biết của ông
trước đó. Nó cũng được Phạm Khắc Hòe, Ngự Tiền Văn Phòng Tổng Lý của Bảo Đại
trong hồi ký của ông này xác nhận.(6)
BẢN TUYÊN NGÔN CỦA HỒ CHÍ MINH
Hòan cảnh được công bố
Bản tuyên ngôn này đã được Hồ Chí Minh đọc tại
Quảng Trường Ba Đình ở Hà Nội vào buổi chiều ngày 2 tháng Chín năm 1945, ngót
năm tháng sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, hơn hai tuần lễ sau khi Nhật Bản đầu
hàng,, mười ba ngày sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội và hai
ngày sau khi Bảo Đại chính thức thoái vị. Vì được công bố sau bản tuyên ngôn
của Bảo Đại, sau khi người Nhật đã đầu hàng cũng như chế độ bảo hộ của người
Pháp đã bị người Nhật lật đổ trước đó, bản tuyên ngôn này đã bị nhiều người cho
là thừa, không cần thiết, chưa kể tới sự kiện là chính phủ mới do Hồ Chí Minh
thành lập là kế vị chính phủ Nam Triều do Bảo Đại thoái vị nhường cho dựa theo
chiếu thoái vị của Bảo Đại và đã được Hồ Chí Minh và chính phủ mới của ông chấp
nhận. Chính Phủ Lâm Thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong những điều
kiện này đương nhiên kế tục những gì Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim đã làm
trước đó, trong đó có Bản Thuyên Ngôn Độc Lập ngày 11 tháng 3 năm 1945. Lập
luận như vậy là hoàn toàn hợp lý đứng trên phương diện pháp lý. Một lập luận đơn
giản và hoàn toàn dễ hiểu.
Câu hỏi được đặt ra là Hồ Chí Minh, và những cộng
sự viên của ông, khi đưa ra bản tuyên ngôn của mình có biết là trước đó Bảo Đại
đã làm công việc này rồi hay không? và biết như vậy tại sao ông lại còn làm lại
việc đó một lần nữa? Cho câu hỏi thứ nhất, câu trả lời là chắc chắn có; Hồ Chí
Minh chắn phải biết là Bảo Đại trước đó đã tuyên cáo hủy bỏ hòa ước bảo hộ 1884
rồi. Nhưng ông vẫn làm lại công việc này vì ông có nhu cầu phải làm. Những nhu
cầu đó là những nhu cầu gì? Thứ nhất là vì từ lâu toàn dân ai nấy đếu khao khát
được thấy nước nhà độc lập, đúng như Bảo Đại đã viết trong hồi ký của ông, độc
lập là ước mơ của mọi người dân Việt(7), cũng như nó được phản ảnh ở khắp nước
ngay trước và sau ngày 2 tháng 9 năm 1945. Nói tới độc lập vào lúc đó là gõ
đúng tần số của bất cứ một người dân Việt Nam nào. Thứ hai là cho tới ngày 2
tháng 9 năm 1945, cái tên Hồ Chí Minh hoàn toàn xa lạ ở trong nước cũng như ở
ngoài nước. Võ Nguyên Giáp, một trong những cộng sự viên thân cận nhất của Hồ
Chí Minh trong thời gian này, đã viết trong hồi ký của ông này rằng: Ba tiếng
HỒ CHÍ MINH không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà
người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân.
Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn
còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái
Quốc khi đó không nhiều.(8) Ngay vua Bảo Đại ngày 23 tháng 8 năm 1945, khi nhận
được điện tín của của các ông Nguyễn Xiển, Nguyên Văn Huyên, Ngụy Như Kon-Tum
và Hồ Hữu Tường nhân danh Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng, yêu cầu nhà vua thoái vị
nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho Chính Phủ Nhân Dân Cách mạng với chủ tịch là
Cụ Hồ Chí Minh đã không biết Hồ Chí Minh là ai. Còn Phạm Khắc Hòe, người được
Việt Minh gài vào cạnh nhà vua cũng không biết nốt, phải chạy đi hỏi Tôn Quang
Phiệt, rồi Đào Duy Anh nhưng Tôn Quang Phiệt đi vắng và Đào Duy Anh lục lọi,
truy tìm các tài liệu , sách vở ông có nhưng cũng không ra tên này. Cuối cùng
Vũ Văn Hiền, ở Bắc về mới xác nhận Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc.(9) Tuyên bố
Việt Nam độc lập đối với Hồ Chi Minh vào thời điểm này do đó là cách tự giới
thiệu mình tốt nhất và hữu hiệu nhất vói toàn thể đồng bào và để được nhìn và
được chấp nhận như là lãnh tụ đầu tiên đã mang lại được độc lập cho tổ quốc và
cho toàn dân Việt Nam, một nhu cầu tối cần thiết, dầu rằng nền độc lập này hoàn
toàn không phải do ông hay do Mặt Trận Việt Minh tạo ra mà là do những biến cố
khác của lịch sử, trong đó quan trọng nhất là Đảo Chính 9 tháng Ba năm 1945,
trong đó người Nhật đã loại bỏ người Pháp và cuối cùng là sự bại trận sau này
của người Nhật.
Chúng ta cũng cần để ý là đối với đa số người
Việt Nam thời đó, ngày 2 tháng 9 là Ngày Độc Lập, đúng như Nguyễn Hữu Đang,
người được Hồ Chí Minh chỉ định tổ chức ngày này gọi qua các văn thư chính thức
ông đã gửi cho các cơ quan liên hệ, trong đó có thư gửi cho Thị Trưởng Hà
Nội(10) và theo bìa in bản tuyên ngôn của bản đầu tiên năm 1945, do Chủ Tịch
Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Hồ Chí Minh đọc trong Ngày Độc Lập.(11) Nhưng đối
với Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 còn có một ý nghĩa quan trọng hơn nữa. Đó là
ngày khép lại cuộc Cách mạng tháng Tám, và khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
hòa, theo lời ông nói với Nguyễn Hữu Đang, Chú phải nhớ...(12)Tại sao vậy? Tại
vì Hồ Chí Minh phải làm chuyện này trước khi quân Đồng Minh kéo vô Việt Nam,
đặc biệt là thủ đô Hà Nội, nhằm đặt họ trước một sự đã rồi, không thể đảo ngược
được.. Sự kiện vua Bảo Đại thoái vị được nhắc tới và câu Toàn dân Việt Nam,
trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp là nhằm
vào mục tiêu này.
Nội dung bản Tuyên Ngôn
Bản Tuyên Ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh vì được
phổ biến rộng rãi và hầu như duy nhất cùng với ngày 2 tháng 9 sau đó được coi
như Ngày Quốc Khánh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và sau này là của Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nên đã được nhiều người đọc, phân tích, tìm hiểu. Trong
phần này người viết chỉ nêu lên nhừng gì ít được người ta nhắc hay để ý đến.
Trong khi Tuyên Cáo của Bảo Đại đơn giản chỉ là
một bản văn thuần túy pháp lý hủy bỏ hòa ước bảo hộ mà triều đình Huế đã ký
trước đó căn cứ vào sự bất lực của người Pháp không giữ được cam kết đã được
ghi trong điều khoản thứ nhất và điều khoản thứ mười lăm của hòa ước này mà
không nhằm vào một đối tượng- quần chúng hay quốc tế, thì bản Tuyên Ngôn của Hồ
Chí Minh nhằm vào toàn thể người Việt qua lời mở đầu “Hỡi đồng bào cả nước”
nhưng ở những đoạn cuối lại nhắm vào các nước Đồng Minh. Điều này phải tinh ý
người ta mới nhận ra được. Về tư cách, Bảo Đại nhân danh Hoàng Đế Việt Nam,
người đứng đầu của một quốc gia độc lập đã tồn tại từ trước khi người Pháp xâm
lăng và là người kế thừa chính thống của các vua Nhà Nguyễn., thì Hồ Chí Minh
đã nhân danh Lâm Thời Chính Phủ của nước Việt Nam mới. Mới là vì đến ngày đó
chính phủ này mới chính thức được ra mắt trước quốc dân. Lời văn do đó
phản ảnh hai tư cách của hai bản chất con người
khác nhau. Một người là hoàng đế kế thừa chính thống của một triều đại đã trị
vì một quốc gia từ hơn một trăm năm trước dù cho là chỉ còn hư vị; một người là
lãnh tụ của một phong trào cách mạng vừa chủ trương chống Pháp, vừa chủ trương
chống Nhật và lật đổ chế độ quân chủ để giành chính quyền. Văn phong trong bản
tuyên ngôn của Bảo Đại là văn phong bình thường của người cầm quyền; còn văn
phong của Hồ Chí Minh mang tính cách kêu gọi và ở một mức độ nào đó có tính
cách bình dân, kể lể dài dòng và nhất là xách động.
Mở đầu cho bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã trích
dẫn một số câu trong phần đầu của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của người Mỹ và một
câu trong Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp. Sự trích
dẫn này, vào lúc mà sự hiểu biết của quần chúng Việt Nam còn thấp kém, đặc biệt
là về lịch sử Hoa Kỳ và thế giới chắc chắn không nhằm vào quần chúng người Việt
mà nhằm vào người Mỹ và người Pháp. Lý do là Hồ Chí Minh như là một đảng viên
Cộng Sản Quốc Tế chắc chắn đã hiểu hơn ai hết là người Mỹ vào thời điểm này đã
đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính tình ở Á Châu, trong đó có Việt
Nam.
Được nguời Mỹ công nhận là coi như làm chủ được chính quyền. Hiểu được như vậy,
ngay từ khi còn ở chiến khu Hồ Chí Minh khi tiếp xúc với người Mỹ đã yêu cầu họ
cung cấp cho ông một bản Tuyên Ngôn Độc Lập của họ, đồng thời khi tiếp xúc với
họ, Hồ Chí Minh cũng nhận thấy rằng nói về lịch sử nước Mỹ với họ là một cách
để chinh phục cảm tình của họ. Cũng vậy, với những chứa đựng trong bản Tuyên
Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của người Pháp. Có điều sự trích dẫn chỉ nhằm một
mục tiêu lôi cuốn sự chú ý và cảm tình của người Mỹ mà thôi. Hồ Chí Minh không
cần đi xa hơn nữa và rất có thể ông cũng không hiểu rõ hơn hay cố tình không
hiểu sự khác biệt trong quá trình giành độc lập của mười ba thuộc địa của người
Mỹ vào cuối thế kỷ XVIII vàø của nước Việt Nam thời ông. Vì vậy ông đã áp dụng
quan điểm của người Mỹ về quyền bình đẳng, quyền được sống tự do và mưu cầu
hạnh phúc của mọi - người - như-là-những-cá-nhân vào trường hợp Việt Nam như
một - quốc - gia đòi quyền độc lập một cách gượng ép hay ít ra là suy luận theo
quan điểm chủ quan của mình với dụng ý riêng của mình. Cũng vậy với những gì
ông trích dẫn từ bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp.
Phần kế tiếp , Hồ Chí Minh lên án người Pháp và
người Nhật, đồng thời ông kể công cho Việt Minh. Trước ngày mồng 9 tháng 3, đã
bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật...sau đó đã
giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu nhiều người Pháp ra khỏi
nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ, và kết luận là Sự thật là
dân ta đã lấy lại nước Việt-nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Điều
như người viết đã nói ở trên là không đúng sự thật. Sự thật là Chính Phủ Bảo
Đại - Trần Trọng Kim đã lấy lại được toàn thể nước Việt Nam từ trước khi người
Nhật đầu hàng kể cả xứ Nam Kỳ và Việt Minh đã cướp chính quyền từ trong tay của
chính phủ Bảo Đại -Trần Trọng Kim trong những ngày 17 và 19 tháng 8 năm 1945
sau đó. Lý do là vì Việt Minh đã có đường riêng của họ rồi, nói theo Phan Anh,
Bộ Trưởng Thanh Niên trong Chính Phủ Trần Trọng Kim và sau này là Bộ Trưởng Bộ
Quốc Phòng trong Chính Phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh.Trong những đoạn này Hồ
Chí Minh đã dùng các từ ngữ ta hay dân ta hay đất nước ta, nhưng mục đích không
nhằm vào người Việt Nam mà vào người Pháp.
Phần cuối cùng của bản văn, từ Bởi thế cho
nên...cho đến hết, lời văn cho người ta thấy Hồ Chí Minh không hướng về người
Việt mà về cả thế giới. Trong phần này ông xưng là chúng tôi, Lâm thời Chính
phủ, đại biểu cho toàn dân Việt -nam để tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp,
kêu gọi các nước Đồng Minh công nhận quyền độc lập của dân Việt-nam...Phần này
Hồ
Chí Minh thay vì quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi - người - như - những – cá - nhân do Tạo Hóa
ban cho, những quyền phải hiểu là tự nhiên ai cũng có, đã nói về quyền hưởng tự
do và độc lập của - cả - nước - Việt - Nam. Điều này hoàn toàn trái với
tinh thần của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Người Mỹ và nhất là của bản Tuyên Ngôn
Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp mà danh xưng của nó đã nói lên một
cách rõ ràng, không thể hiểu sai được. Không những thế, thay vì coi những quyền
này là do Tạo Hóa ban cho, ông lại lý luận là vì dân tộc Việt Nam là Một dân
tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã
gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được
tự do! Dân tộc ấy phải được độc lập! Lý luận như vậy người ta phải hiểu, theo
Hồ Chí Minh, rằng những dân tộc không gan góc chống lại những thế lực đè nén,
áp bức mình và không gan góc đứng về phe Đồng Minh, chống phát-xít là không
đáng được tự do, độc lập. Cũng vậy, với các quyền độc lập, tự do và mưu cầu
hạnh phúc của con người như là những cá nhân trong xã hội. Chính vì vậy Trần
thanh Hiệp,khi được Đài Á Châu Tự Do phỏng vấn ngày 2 tháng 9 năm 2007, đã có
lý khi ông gọi bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh này là một bản tuyên ngôn phi
nhân quyền(13) dù cho là nó đã được chính tác giả của nó trích dẫn và soạn thảo
theo tinh thần của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp.
Người ta có thể giải thích sự thiếu rõ ràng trong
bản Tuyên Ngôn Độc Lập kể trên là do nó đã được soạn thảo trong một thời gian
quá ngắn và trong tình trạng tác giả (hay những tác giả) của nó còn phải bận
rộn với nhiều vấn đề cấp bách khác. Điều này không đúng vì trước đó từø lâu, khi
tiếp xúc với một sĩ quan người Mỹ, Hồ Chí Minh đã xin một bản tuyên ngôn của
người Mỹ rồi. Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã nghĩ tới và đã thai nghén bản tuyên
ngôn của ông từ lâu rồi. Do đó những gì ông nói tới, những từ ngữ ông dùng đều
được cân nhắc kỹ và đều có dụng ý riêng với những mục tiêu riêng mà chỉ sau này
phải phân tích kỹ, đối chiếu kỹ và có thể sau này khi mọi việc liên hệ đã xảy
ra rồi, người ta mới có thể hiểu được.
Phạm Cao Dương
_________________________
Chú thích:
1 - Dương Trung Quốc. Việt Nam : Những Sự
Kiện Lịch Sử (1919-1945). HàNội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 202.tr. 388.
2 - Lệ Thần Trần Trọng Kim. Một Cơn Gió Bụi
(Kiến Văn Lục). Saigon, Nhà Xuất Bản Vĩnh Sơn,
1969. tr. 49.
3 - nt - , tr. 51.
4 - Dương Trung Quốc, Việt Nam..., tr. 388; Nguyễn
Vỹ. Tuấn, Chàng Trai Nước Việt (Chứng Tích Thời Đại Từ 1900 đến 1970, Quyển II.
Saigon, ? , 1970. Fort Smith, AR tái bản ở Hoa
Kỳ, ?. tr. 512.; S.M. Bao Dai. Le Dragon d'Annam. Paris, Plon. 1990. Cameron,
Allan W. Viet-Nam Crisis, A Documentary History, Volume I: 1940-1956. Ithaca, N.Y.
Cornell University
Press, 1971.. tr. 31-32. Hai bản tiếng Việt in trong tác phẩm của Dương Trung
Quốc và tác phẩm của Nguyễn Vỹ hơi khác nhau ngôn từ những hoàn
giống nhau về nội dung. David G. Marr trong
Viênam 1945, The quest for Power (Berkeley, University of California Press,
1995, tr. 71) có nói tới các bản tiéng Việt và tiếng Pháp ở văn khố Pháp và bản
đăng trên tờ Dân Báo, ngày 12 tháng Ba. Vũ Ngự Chiêu cũng nói tới tờ Tin Mới,
nhưng nhất thời người viết bài này chưa đến được các nơi cần đến để tìm kiếm.
5 - Taboulet, Georges. La Geste Francaise en
Indochine,Histoire par les textes de la France
en Indochine des origines à 1914, tome II, Paris, Adfrien - Maisonneuve, 1956. tr. 809 -
812; Phan Khoang, Việt Nam
Pháp Thuộc Sử, 1884 - 1945. Saigon,, ? ,1961.
Tái bản ở Hoa Kỳ. tr. 322 - 328.
6 - Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế Đến
Chiến Khu Việt Bắc. Huế, Thuận Hóa, 1987, tr. 16 -.
7 - Bảo Đại, Le Dragon d'Annam, đã dẫn, tr.
103.
8 - Võ Nguyên Giáp, Những Năm Tháng Không Thể
Nào Quên, trong Tổng Tập Hồi Ký. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, 206,
tr.. 255.
9 - Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế..., tr.
76.
10 - Phùng Quán, Ba Phút Sự Thật. Thành Phố
Hồ Chí Minh, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, 2006, tr. 114 - 115.
11 - Hồ Chí Minh, Tuyên Ngôn Độc Lập Nước
Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Sự Thật, 1976, tr.13. Nguyễn Khánh Toàn
va Lữ Huy Nguyên, Tổng Tập Văn Học Việt Nam, Tập 36. Hà Nội, 1980. tr. 812
- 823.
12 - nt
13 - Trần Thanh Hiệp và Trương Giang, Một Bản
Tuyên Ngôn Phi Nhân Quyền, trên Người Việt, số 7940, ngày Thừ hai, 3 tháng 9
năm 2007.