Ảnh bìa sách Cục Cưng Thượng Hải
của Vệ Tuệ
Cách đây nửa năm, tôi đọc được một bài viết của Phan Nhiên Hạo từ bên
ngoài, với nhan đề “Nhà văn thế hệ sau chiến tranh và ông vua cởi truồng”. Phan Nhiên Hạo viết:
“Người ta
đang đề cập đến một thế hệ văn nghệ trẻ, những người sinh ra hoặc trưởng thành
sau 1975: kỳ vọng vào họ nhiều mà thất vọng cũng lắm, xoa đầu vỗ vai thường
xuyên mà chê bai cũng không hiếm. Bản thân cái gọi là “nhà văn thế hệ sau chiến
tranh” vì sao chưa làm nên chuyện, dĩ nhiên có nhiều nguyên nhân, nhưng theo
tôi, lý do quan trọng nhất là vì phần lớn họ đang sáng tác với một quan điểm
“phi chính trị” rất thỏa hiệp. Sự thỏa hiệp này triệt tiêu khả năng đẩy các thử
nghiệm nghệ thuật đến cùng, và đặc biệt khiến việc lý giải các vấn đề xã hội
trong văn chương thường rơi vào chỗ giả tạo.
(…) Điều
đáng chán của các nhà văn trẻ trong nước hiện nay không nằm ở thái độ thiếu dấn
thân của họ, mà ở cái cung cách tự phủ dụ, tự hài lòng trước cái giới hạn sáng
tạo ngầm được đề ra bởi chính quyền: viết gì thì viết, nhưng không được đụng
đến chính trị. Một số nhà văn trẻ trong nước phát biểu trên báo chí như thể họ
có thể viết về mọi đề tài, tự do thể hiện mọi tư tưởng, vấn đề chỉ ở chỗ tài
năng, kiến thức. Họ bàn về thơ “siêu hình” như thể điều này sẽ mang lại tự do
đích thực, giải thoát họ khỏi hiện thực nhếch nhác. Họ nói về “concept art” như
thể đang sống ở Paris hay New York, trong khi về thực chất, các cách tân của họ
chỉ là những bắt chước lụn vụn về mặt nghệ thuật do thiếu điều kiện tìm hiểu
cặn kẽ, kết quả của việc hạn chế thông tin, và đầy thỏa hiệp về nội dung do cố
lèn lách qua cánh cửa he hé
của bộ máy kiểm duyệt. Họ không nhận ra rằng, chẳng có sự cách tân nghệ thuật nào có thể đi đến cùng mà lại
vắng mặt quyền tự do ngôn luận. Họ nói về chuyện dịch sách như thể chỉ cần có
kiến thức văn chương, người ta sẽ trở thành những người có văn hóa. Họ không
thấy một người rất có kiến thức như Chế Lan Viên, khi không có tự do sáng tạo,
cũng có thể biến thành một nhà văn minh họa cuồng nhiệt nhất, và vì thế, phản
văn hóa nhất. Họ có vẻ hài lòng với sự nới lỏng của nhà cầm quyền hiện nay,
quêøn rằng đó là vì trước đây họ đãù sống trong một xã hội hoàn toàn không có
tự do dân chủ. Sự nới lỏng của xãù hội Việt Nam hiện nay thực chất chỉ là những
củ khoai mỡ dọn ra cho các nghệ sĩ, những người từ trước đến nay chỉ được phép
sống thoi thóp bằng nước lãù. Một vài người có đầu óc làm ăn, bằng sự khéo léo
ứng xử trong ngoài, đang tìm cách chế biến những củ khoai mỡ này thành đặc sản,
đổi chác được cả vé đi nước ngoài miễn phí lẫn danh tiếng của một ca sĩ hạng B.
Cần nhận rõ việc được phép xuất bản những bài thơ đượm mùi tình dục hay những
truyện ngắn phê phán xã hội lặt vặt mà không được phép chỉ ra nguyên nhân chính
trị sâu xa của chúng, đều chỉ là những trò văn chương nửa vời. Vấn đề khó khăn
của giới trẻ hiện nay, nhất là những người sinh ra sau 1975 hoặc những người
lớn lên ở miền Bắc, là họ hầu như chưa từng biết đến một thể chế chính trị nào
khác ngoài chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Và vì chưa từng nếm trải một kinh nghiệm tự
do dân chủ thực sự, họ không có nhu cầu mãnh liệt về điều này, giống như người
chỉ nhìn thấy ảnh chụp một loại trái cây ngon, có thể cũng muốn thử, nhưng sẽ
không thấy thèm bằng một người đã từng ăn qua, biết rõ mùi vị ngon ngọt của
trái cây này. Nhà văn trẻ trong nước hiện nay có vẻ hài lòng với việc trang trí
ngôi nhà văn chương của mình bằng những bức ảnh chụp các loại cây trái như vậy, thường là những bức ảnh
ngoại nhập sặc sỡ, trong khi vẫn tiếp tục hài lòng với một thứ tự do khoai mỡ.
(…) Về phần
các nhà văn trẻ, nếu không thể lên tiếng cho quyền tự do sáng tạo, chí ít cũng
nên chấm dứt những trò ca ngợi dối trá kiểu “có thể viết về mọi đề tài”. Cần
nhận rõ rằng “thế hệ sau chiến tranh” vẫn chưa thoát khỏi sự khống chế của bộ
máy chính trị đang vận hành bởi “thế hệ chiến tranh”, rằng mặc dù bề ngoài có
vẻ cởi mở hơn, chính trị Việt Nam vẫn luôn canh chừng văn chương bằng cây gậy
sắt. Chiếc gậy lơ lửng trên đầu này, trong môi trường kinh tế thị trường nhiều
cám dỗ, chỉ càng khiến các nhà văn có lý do đua nhau chạy nhanh hơn về phía củ
cà-rốt, để rồi khi đó ngậm củ cà-rốt, họ chẳng còn có thể phát ra ngôn ngữ đẹp
đẽ của con người, chỉ toàn tiếng ú ớ. Nhà văn, nhất là những nhà văn tài năng,
nên cố gắng chỉ ra cho người đọc cái thực trạng tinh thần xã hội mà thế hệ mình
đang sống, hơn là tìm cách làm vừa lòng tất cả mọi người bằng thứ văn chương
thái giám vô vị. Tôi tin rằng chỉ cần từ chối thỏa hiệp, chứ chưa cần phải dấn
thân chính trị gì cả, các nhà văn đó cóù thể viết những tác phẩm rất thuyết
phục trêøn cái nền hiện thực có một không hai của Việt Nam (…)“
Tôi chưa có diễm phúc được nghe những nhà văn trẻ
phát biểu trên báo chí việc họ “có thể viết về mọi đề tài, tự do thể hiện mọi
tư tưởng”. Nhưng cũng thật may là những lời dối trá, đẩy đưa kia không đến tai,
nếu có, chắc tôi phải quỳ xuống khấu đầu làm lễ xin chữ ký diễn viên “dân chủ
kịch” đại tài ấy! Hoặc rất có thể sẽ phải vò đầu bứt tai, dằn vặt tự vào nhà
thương điên. Vì theo họ, hoá ra hơn 81 triệu dân Việt được tự do khóc, tự do
cười, tự do hắt hơi, tự do nói những gì mình thích! Còn tôi, công dân 28 tuổi
đời ương ương ngạnh ngạnh, chưa nếm mùi chiến tranh, cũng chưa từng thưởng thức
an bình theo đúng nghĩa, lại đang làm con lươn bùng nhùng dấm dứt trong chiếc
ống tối tăm. Hoá ra tôi bị trống câm.
Người mù, người câm, người điếc, ai cũng thấy
hiện trạng xã hội Việt Nam đương đại đang xoay thế nào. Một xã hội bất bình
đẳng kinh khủng với ngàn tệ nạn lớn-nhỏ, trẻ-già, sang-hèn. Đúng như Phan Nhiên Hạo viết, bản
thân xã hội Việt Nam đã là một tác phẩm tuyệt diệu. Một nguyên liệu khổng lồ,
mặc sức các nhà văn khai thác, tung bút. Nhưng chúng ta đã nhìn thấy gì, đã
viết được dòng nào từ nguyên liệu khổng lồ ấy? Hay rời rạc dăm câu thơ không rõ
nghĩa, vài ba truyện ngăn ngắn kháy khía tủn mủn chưa làm gãy nổi cái càng
kiến. Và chúng ta ngồi nhìn bầu trời xám xịt ô nhiễm, gác chân cho những đứa
trẻ tội nghiệp lau giầy, rên ư ử trong nhà hàng bia ôm máy lạnh mà làm thơ móc
máy lẫn nhau. Thảng hoặc ai đó chấm được một nét vào bức tranh, chúng ta lại
khịt mũi, phẩy tay: “Thằng đấy, con đấy thì làm nên cơm cháo gì!” Rồi chúng ta
ra sức khích bác ngáng đường thằng ấy, con ấy. Cái này thì dân Việt lại cực giỏi!
Và tất nhiên, cái nền hiện thực ngay cả người mù cũng trông thấy được qua mùi
bẩn thỉu hôi hám bốc lên chẳng liên quan gì đến chén rượu đượm đặc, đến cô gái
điếm mũm mĩm của chúng ta, sẽ vĩnh viễn không bao giờ xuất hiện trong tác phẩm.
Mở miệng không được thì ngậm miệng nuốt rượu, ta là ta, người khác mặc người
khác, chỉ mình ta là nhà văn đích thực. Dùng ngòi bút kiếm cơm, kiếm chức, kiếm
quyền, kiếm luôn sự phỉ nhục mà lịch sử sắp để lại.
Phan
Nhiên Hạo chưa muốn hiểu, các nhà văn trong
nước sống được rồi mới viết được, còn cái đầu trên cổ thì nó mới điều khiển
được trí não để phun chữ ra ngón tay. Nhiều người muốn vẽ bức tranh của xã hội
thối nát bây giờ, muốn được nói sự thật về cuộc chiến đã qua, muốn được rốt ráo
chỉ ra nguyên nhân tình trạng mục ruỗng, muốn được reo hát bản năng trung thực
của con người. Nhưng chỉ cần đặt bàn chân, hé môi ra chuẩn bị nói: “vua không
mặc quần áo”, bàn chân đã bị chặt, cái lưỡi đã bị cắt. Một vài người lọt được
bàn chân, nhếch được môi, thì phải trả giá quá đắt. Mà cái giá này cũng không
dấy lên một phong trào cách mạng nào để thay đổi tình hình. Vậy thì ngồi im,
thoả hiệp, chờ sung rụng. Mà hoa gạo thì làm sao đậu thành trái sung!
Cái vòng luẩn quẩn gỡ làm sao đây?
Chúng tôi như lũ lươn bị nhốt trong ống, con quằn
quại tìm lối thoát, con nằm im chịu giày xéo. Người bên ngoài nhìn vào thấy
thương thay, nhưng ai dám đập bể cái ống để chúng tôi được chui ra ngoài? Phan Nhiên Hạo không đập bể
ống và chúng tôi không tìm ra lối thoát. Vẫn lại cái vòng Kim Cô luẩn quẩn.
Trở lại vấn đề ai đó phát biểu chúng ta có thể
“viết về mọi đề tài, tự do thể hiện mọi tư tưởng”, một trò lộng ngôn mà tôi
nghĩ chỉ có trong giấc mơ của chúng tôi. Giấc mơ trong một giấc mơ. Quá xa vời.
Quá ảo tưởng trong tình trạng đâu đâu cũng là lửa, là dao, là búa hiện thời.
Lửa bao các nhà văn trong những bức tường ám khói, bầu trời chỉ là những ánh
lửa “vừa hồng vừa chuyên màu cờ tổ quốc”. Chúng tôi chỉ được phép nhìn thấy,
lên tiếng trong giới hạn của đường phấn đã có kẻ vạch sẵn. Khác gì chúng tôi
phải tự chọc mù mắt mình, tự ngoáy vòng cho tai điếc để không nghe thấy, không
trông thấy thế giới bên ngoài lửa khét.
Đôi khi tôi lại nghĩ nhà văn thường là người lãng
mạn, mây gió tuyết trăng, viết truyện tình, truyện buồn, truyện hoang đường,
đâu cần rốt ráo đi tìm câu trả lời trong mớ chính trị lạnh lùng ác độc. Vả lại,
rốt ráo đi tìm nguyên nhân cho những tiêu cực xấu xa mà mình nêu ra, thì chưa
hẳn là văn học đâu, một thứ phóng sự điều tra, thể loại của báo chí mà ai chẳng
biết. Độc giả sẽ không đến nỗi ngu ngơ để không hiểu nhà văn ẩn dụ điều gì, khi
nhà văn viết về những thối nát đang mục ruỗng đất nước này. Chỉ cần nhà văn
đừng chết dí trong bức tường ám khói, nhà văn cố giữ lấy sự trong sạch cho đôi
mắt, đôi tai, trí não, hai bàn tay đừng bị cám dỗ bởi củ cà rốt lửng lơ trên
cao để rồi ú ớ phát ngôn “có thể viết mọi đề tài”, nhà văn đã có thể vẽ nên bức
tranh “tuyệt vời khủng khiếp” dân tộc đang sống. Phải chăng đây chính là sự dấn
thân mà Phan Nhiên Hạo
đòi hỏi? Nói gì thì nói, sợ lắm! Chớ có liều mình lao qua rào kẽm gai, phóng
qua bức tường lửa, thân thể sẽ rách bươm và chết cháy mà chẳng ai bên ngoài cứu
giúp, kể cả Phan Nhiên Hạo.
Nhưng mà suy cho cùng, thế hệ sinh sau 1975, “thế
hệ sau chiến tranh” chúng tôi dù có nhức nhối đến mấy cũng chỉ là vết trợt qua
da, không phải ung nhọt tiêu xương tiêu tủy khoét sâu thể xác, tâm hồn như lớp
đàn anh đi trước phải hứng chịu. Tôi lại là thiếu nữ có phần may mắn hơn nữa.
Tôi không có bố hay anh cầm súng bên kia vĩ tuyến 17, tôi cũng không có người
mẹ là Nghệ sĩ nhân dân chuyên
hát nhạc đỏ hừng hực khí thế tiến quân, mang về cho tôi con búp bê bằng nhựa
sau bao năm hành quân qua dẫy Trường Sơn tiến về Sàigòn. Tôi cho đây là sự may
mắn của số phận mình chứ tôi không tự hào. Bố tôi luôn dạy: “Trong xã hội này
con nên im lặng con mới sống được”. Đôi lúc tôi không nghe lời bố, tôi đã muốn
thoát ra khỏi bức tường, và đâu đó tai hoạ, dao búa vẫn đang rình rập quanh
tôi. Dù bây giờ, đôi khi tôi không dám viết những gì mình muốn, dù đôi khi tôi
tự hỏi tôi đang sống hay đang nuôi cơ thể sống, tôi vẫn nghĩ mình là người may
mắn. Vì tôi quá sợ chiến tranh và thù hận. Tôi biết, những gì đang diễn ra
ngoài kia có nguồn gốc sâu xa từ quá khứ, từ những cuộc chiến tranh, nhưng
chúng tôi chẳng đủ sức để làm thay đổi điều gì. Chúng tôi sống được thì mới
viết được. Mà chúng tôi chỉ tồn tại sinh vật, chúng tôi chưa được phép sống.
Dẹp qua một bên những di sản tối tăm của cả một
dân tộc, tôi muốn nói về cơn mê được làm Người của mình. Cơn mê được sống bằng
bản năng thật, bản năng nguyên thủy, bản năng con người. Không màu cờ nào,
không ban tư tưởng nào có thể khoá được bản năng thật của con người. Có thể đất
nước tôi đang sống chưa có nền Cộng Hoà, chưa có tổng thống cử tri bầu phiếu,
nhưng dân chúng vẫn là con người. Tôi biết yêu, biết ghét, và có tính dục như
bất kỳ một công dân Âu hay Mỹ nào khoẻ mạnh, không mắc chứng liệt dương, liệt
âm. Chính trị có thể bóp chết tư tưởng nhưng làm sao chặt đứt xúc cảm luyến ái,
chặt đứt bản năng dữ dội con người? Không một thế lực, không một chính quyền,
không một đảng phái nào có thể dập tắt, cấm vận bản năng sinh tồn nguyên thủy
bên trong con người. Càng cấm, nó càng tích tụ thành những con sông ngầm chảy
sâu và đúng lúc sẽ oà vỡ, cuộn trào cuốn phăng tất cả. Khi ấy, mỗi một con người
trên đất nước này sẽ mang trong mình một trận hồng thủy.
Có thể Phan Nhiên Hạo và nhiều người khác sẽ nói tôi muốn
bàn đến chuyện tủn mủn, vụn vặt, không giúp ích gì cho văn đàn ảm đạm ám khói
hiện thời, và đấu tranh cho tự do tình dục, các nhà văn nữ Phương Tây đã làm
cách đây hàng thế kỷ. Nhưng tôi đang đòi quyền được sống, được tự do bộc lộ
mình từ việc nhỏ nhặt này. Người ta đã làm cách đây cả thế kỷ là chuyện của
người ta, còn tôi chưa được thì tôi vẫn phải làm. Thời buổi nào con người không
yêu đương, không luyến ái? nhưng ngay cả tự do được nói về chuyện hiển nhiên,
cũng không được viết, liệu chúng tôi còn được nói gì, viết gì lúc này? Giải
quyết được cái nhỏ đi rồi hãy nghĩ đến những chuyện lớn. Không phải nhà văn,
nhà thơ nào cũng liệt dương, liệt âm trên giường rồi mới bạo dâm trong truyện
ngắn, thơ ca. Không phải là mốt, không phải là thời trang. Hãy cho chúng tôi
được sống thật với chính mình, với thân xác mình, bộc bạch những điều mình
nghĩ, được kể lại cuộc sống của chúng tôi và bạn bè chúng tôi, được mơ những
giấc mơ của chúng tôi qua văn học, những giấc mơ mang thân thể chúng tôi mà
không sợ bị đánh, bị cấm xuất bản, bị quy chụp là vô đạo đức. Hãy cho tuổi trẻ
Việt Nam được quyền gọi tên đúng sự vật, hiện tượng. Bây giờ chúng tôi đang
phải uốn bút mà viết “việc ấy, cái ấy”, ấy
là cái gì? Nhà thơ Đỗ Kh. thể nào cũng lại cười tôi! Anh đã viết phăng ra “cái
ấy” là “cái ấy”, còn chúng tôi ở đây chẳng dám viết thế, chẳng ai in, và mọi
người nhìn chúng tôi như nhìn quái vật. Nhiều truyện ngắn của tôi gửi đến toà
soạn các báo “văn nghệ”, đến các nhà xuất bản “văn học”, đều được buông một
câu: “Viết gì mà ghê gớm thế, xã hội Việt Nam không chấp nhận cách nghĩ, cách
viết như vậy!”. Ô hay, xã hội Việt Nam là ai? Là hơn 80 triệu dân hay là ông?
Người đại diện cho thế lực “sống và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại”? Mà Bác
Hồ sống thế nào? Các ông
nói Bác Hồ trong sạch, Bác không lấy vợ, không bồ bịch, cũng
chẳng hề sinh con đẻ cái. Hoá ra các ông bắt chúng tôi tự “triệt sản”, tự
“thiến” mình? Các ông cứ sống như vậy đi, rồi trưa trưa, đêm đêm cùng bồ nhí
oằn ẹo khách sạn này, nhà hàng nọ với một đống comdom Pháp, Mỹ. Còn chúng tôi,
hãy để cho chúng tôi được chính là mình, được viết cái mình có, mình khát khao
giải bầy, dù dưới hình thức nào, cái chính là thật lòng, không “dối trá”.
Tôi cứ mãi băn khoăn một chuyện, không tìm được
câu trả lời đích đáng.
Trung
Quốc, một đất nước rộng lớn có thể chế chính trị na
ná Việt Nam. Họ có một nền văn minh lâu đời, một nền văn hoá lớn mang bản sắc
riêng biệt trên thế giới. Nếu đem so nền văn hoá nhỏ bé và phần nào lai Tàu,
lai Tây của chúng ta với họ, e rằng hơi ngượng. Lễ giáo Trung Hoa cũng có tiếng hà
khắc, nghiêm ngặt. Nền văn học của họ khá đặc sắc và đồ sộ không lẫn với bất kỳ
quốc gia nào khác. Nhưng mấy năm gần đây, họ đã hoà nhập vào dòng chảy văn học
thế giới một cách ngoạn mục với nhiều tên tuổi không kém lẫy lừng: Cao Hành Kiện, Giả Bình Ao,
Mạc Ngôn… Các nhà văn phương Bắc không đánh mất mình, không đánh mất bản sắc Trung Hoa, nhưng họ đã được tự
do hoà nhập vào thế giới. Tôi muốn nhấn mạnh đến những nhà văn trẻ của đất nước
rộng lớn này. Những Từ Khôn, Cửu Đan, Vệ Tuệ, Miên Miên, Chun Su, Han Han… với
lối viết bộc bạch, táo bạo, mạnh mẽ kể những câu chuyện của chính họ, thế hệ
trẻ Trung Hoa
trong xã hội đương thời với nhiều uẩn ức sâu kín mà từ xưa, người Tàu theo
truyền thống ít bộc lộ.
Một Cửu Đan ma quái, đối mặt xã hội trên cái nền
hiện thực hôi hám trong Quạ Đen thẳng thừng tuyên bố: “Nếu xem viết văn là cởi bỏ áo quần thì sau khi đã
cởi bỏ hết áo quần, tôi sẽ không ngợi ca bầu vú của tôi đẹp như thế nào, mà
muốn chỉ cho mọi người thấy vết thương của tôi, đồng thời sẽ nói rằng, vết
thương này trước tiên là bởi tội ác của tôi, sau đó mới là tội ác của người
khác (…) Thế nào gọi là viết văn bằng thân xác? Phải chăng là sau khi ngủ với
đàn ông rồi viết ra những chuyện ngủ với đàn ông, rồi thông qua phương thức ngủ
với những người đàn ông khác được gọi là ‘biên tập viên’ để được xuất bản? Có
phải như thế gọi là viết văn bằng thân xác? Nếu đó là điều mà mọi người gọi là
viết văn bằng thân xác, vậy thì, tôi xin nói, không, tôi tuyệt đối không. Nếu
nói viết văn bằng thân xác là dùng thân xác của mình, sinh mệnh của mình để
trải nghiệm, để thể nghiệm, rồi lấy cái bản chất nhất, thực chất nhất, dùng thủ
pháp chữ nghĩa để biểu hiện, thì tôi đã làm như thế “.
Một Vệ Tuệ bạo liệt, nhạy cảm quá đỗi trong Điên
Cuồng Như Vệ Tuệ mà Vương
Trí Nhàn thay mặt nhà xuất bản Hội Nhà Văn phải rào đón: “Dù có nhiều trang tả cảnh làm tình, song không thể
nói những trang truyện ở đây mang tính cách khiêu dâm. Trong con mắt của lớp
trẻ, cái sự gọi là ngoan ngoãn hay hư hỏng (theo tiêu chuẩn cũ) thực ra không
có gì quan trọng. Điều khiến họ bận tâm là được sống theo ý mình…“;
một Vệ Tuệ tự thú: “Khát vọng của tôi gần
như lý do tồn tại của tôi là làm cho thành phố nổ tung như một trận pháo hoa“;
một Vệ Tuệ thác loạn trong Cục Cưng Thượng Hải đã tát tai chủ tịch Mao và Khổng
Phu Tử khi bình tĩnh miêu tả cảnh giao hoan trong cầu xí với một ngoại kiều da
trắng…; không hẳn chỉ thuần là tiếng nói riêng biệt, thể hiện cái Tôi của một
nhà văn nữ, nhưng chính là đời sống thật của lớp thanh niên Trung Quốc hiện thời. Đọc Vệ
Tuệ không ai không nghĩ đến thanh niên Việt Nam. Gần như chung một tâm trạng,
chỉ khác biệt một bên sống và một bên thèm sống. Không ai nói ra, không ai dám
viết thì những cánh hồng Trung Quốc viết. Và
họ, những nữ văn sĩ còn bị xem là vị thành niên, được nồng nhiệt đón nhận ở
khắp thế giới, ở Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Hàn, Malaysia, Singapore, Đài Loan,
Hồng Kông… Tác phẩm của họ bán được hàng triệu bản, một con số mà các nhà văn
Việt Nam nằm mơ suốt cuộc đời. Trong “đời sống điên cuồng” của Vệ Tuệ, có sex –
ma tuý – Rock n’ Roll và có cả văn hoá tổ tiên Trung Hoa lẫn Âu Mỹ. Họ đã
được phép nói: “vua không mặc quần áo, vua cởi truồng”.
Khi Phan Nhiên Hạo nói về củ cà rốt, những cám dỗ của
nền kinh tế thị trường trước các nhà văn trẻ Việt Nam, tôi đã nghĩ đến miếng
mồi Vệ Tuệ đang lơ lửng trên đầu họ và những hiểm nguy của nó. Lạ một điều,
người ta không cho in, người ta cấm xuất bản nhiều tác phẩm với lý do “không
phù hợp với văn hoá Á Đông, không phù hợp với suy nghĩ người Việt, quá mạnh bạo
và nhiều sex..”, nhưng người ta lại cho dịch và in ấn, phát hành tràn lan tiểu
thuyết đầy nhục cảm, rượu và ma túy của Vệ Tuệ cũng như phơi bầy trong hiệu
sách máy lạnh hay trên lề đường phố Nguyễn Xí những Vú To Mông Nở của Mạc Ngôn.
Dù có kín đáo dịch sang Báu Vật Của Đời thì vú vẫn to và mông vẫn nở và nhân
vật Kim Đồng vẫn cuồng nhiệt si mê những cặp vú, chẳng vì cái kín đáo “hớ hênh”
ấy mà ngực lép mông dẹt cho đúng với thuần phong mỹ tục nước ta. Nó đâu “phù
hợp với suy nghĩ của người Việt” mà đem bày bán nhiều thế? Để rồi độc giả đọc
xong, quay sang chửi đổng: “Trung
Quốc họ viết hay như vậy, nhà văn Việt Nam không biết học tập
à?” Vô hình dung, nhiều nhà văn trẻ Việt Nam nhìn thấy miếng mồi thơm nguy hiểm
Vệ Tuệ bày ra trước mặt mà thèm thuồng. Tôi nói nguy hiểm bởi vì thấy nó quá
đẹp nên thèm thuồng. Ai đó ở Việt Nam nếu bạo dạn sáng tạo ra những cái đẹp
tương tự như thế, nếu không bị gậy sắt phang vào đầu thì cũng chết yểu bởi thị
phi, dè bỉu. Cho dù xã hội thực trạng đương thời Việt Nam đang phơi bầy trước
mắt trăm ngàn vạn triệu mảng màu đen xám lầy lội chẳng kém cạnh gì xứ Trung Hoa, các nhà văn đang
không sống mà tồn tại sinh vật vẫn không thể làm nên tác phẩm. Có người bảo:”Cứ
viết đi, không in được thì cất, chờ thời, thể nào chẳng đến lúc”. Hỡi ôi, biết
đến ngày nào con lươn chui ra được khỏi ống mà chờ đợi! Quẫy đạp mãi rồi tàn
hơi mà chết sớm. Nằm yên thì lại bảo là lười biếng, chờ sung rụng. Ông đi qua,
bà đi lại coi như trò mua vui. Gậy sắt thì lơ lửng. Mồi thơm thì ngầy ngậy. Củ
cà rốt hồng tươi. Cuống họng lúc này chỉ biết ú ớ lên rằng: “trong giấc mơ, tôi
là một nhà văn thèm được điên cuồng như Vệ Tuệ mà không bị móc mắt, chặt tay.”
Bi kịch khôi hài “Nhà văn và ông vua cởi truồng”
diễn ở đâu? Thưa, đang trình diễn trong những rạp hát của “Người di tản buồn”.
Bi kịch khôi hài “Nhà văn và ông vua cởi truồng” với cá nhân tôi, sắm vai phụ,
đang phải diễn trong chính bút hiệu ám dấu này.
CÁT
VY
Hà Nội, 8-2004
(In trong Hợp Lưu 79, số
tháng 10-2004)