
Nhạc sĩ Phạm Duy / Ảnh: Nhật Tấn
Nhạc sĩ Phạm Duy có cái nhìn xuyên suốt, không rào cản
so với nhạc sĩ cùng thời. Người lắng nghe
giao thoa những tiến triển nền âm nhạc Việt so với thế giới từ những năm 1930
cho đến nay.Từ cái bắt gặp đầu tiên trên bộ đồ bà ba xanh, đôi mắt sáng trên
vành tai thính âm tài hoa ấy. Nhạc sĩ Phạm Duy chợt cười, nụ cười nhéo mắt luôn
điểm lại con người ấy từng nốt nhạc vượt không gian thời gian. Hồn nhiên Phạm
Duy cười nói: : “Tôi có hai con mắt, một con trái mắt tỉnh tảo thực tế với dòng
đời. Và mắt phải luôn làm việc sáng tạo.” Cuộc phỏng vấn sau đây ghi lại một vài nét về cuộc đời nhạc sĩ Phạm
Duy với thế hệ trẻ tại Việt Nam đang muốn cùng ông bày tỏ tâm sự.
Huỳnh Lê Nhật Tấn
Huỳnh
Lê Nhật Tấn (HLNT): Một đông lực
nào để ông thành nghệ sĩ khi thân sinh ông là Phạm Duy Tốn là nhà báo, nhà văn,
doanh nhân chí sĩ yêu nước trong nền văn học mới, người bạn thân của Nhà dịch
thuật, cải cách Nguyễn Văn Vĩnh. Hay thường gọi (Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố). Và là
người hủi tóc ngắn và mặc âu phục đầu tiên tại VN? Xin ông có thể kể lại vài
hình ảnh đáng nhớ về thân phụ cũng như trong một gia đình thăng hoa?
Phạm
Duy (PD): Tôi không có
may mắn được sống với cha vì Người qua đời khi tôi mới 2 tuổi. Nhưng khi tôi
lớn lên, được biết mình là con một nhà báo, nhà văn nổi tiếng thì tôi khởi sự
tìm hiểu về ông. Và tôi biết rằng ông là một trong những người “tân tiến” (khác
với cổ hủ) của thời đại. Tôi yêu qúy ông và muốn được như ông cho nên khi quyết
định làm người nghệ sĩ, tôi muốn tiếp nối sự nghiệp “hướng về cái mới”
(progressif) của ông. Trong gia đình, tôi có thêm người anh cả Phạm Duy Khiêm
cũng là một nhà văn (Pháp ngữ) lỗi lạc… làm cho tôi càng muốn là một nghệ sĩ
tiến bộ, khai phá, xung phong…
HLNT: Là một nhạc sĩ
thời kỳ tân nhạc Việt Nam, khi ông cho ra đời cuốn sách đặc khảo dân nhạc Việt
Nam ông kỷ niệm gì ? Đặc biệt là ca khúc Buồn Tàn Thu được ông phổ biến rộng
rãi với kỷ niệm đáng nhớ. Văn Cao người bạn nửa thế kỷ tràn bao thời kỳ lịch sử
khó quên với 2 bài hát như Suối Mơ, Bến Xuân (lời Phạm Duy, Nhạc Văn Cao)…
PD: Trong những ngày xa xứ, vào khoảng 1990, tôi
viết bài đăng trên báo VĂN HỌC (Santa Ana CA, USA) và soạn những chương trình
phát thanh cho Ðài BBC Luân Ðôn để nói về sự thành
lập và phát triển của Tân Nhạc, trên dưới 50 năm nay, đã có mặt ở trong và
ngoài nước, và nhất là ở trong lòng ba, bốn thế hệ người Việt Nam rồi. Ðơn
phương làm công việc của một tập thể (như một Hội Nhạc Sĩ Việt Nam chẳng hạn),
chắc chắn tôi vấp nhiều khuyết điểm, nhưng vào lúc đó, tôi cứ phăng phăng làm
và nghĩ rằng sẽ có ngày được hội luận với mọi người trong ngành rồi sẽ sửa sai,
bổ túc. Tôi có cơ hội tiếp súc với những người đã thành lập nên nền Tân Nhạc,
ví dụ: các cụ Nguyễn Văn Tuyên 86 tuổi, Lê Thương 83 tuổi, vào năm 1990 này,
đang còn sống ở Saigon… Ðó là chưa kể trong những năm tháng trước đó, tôi đã
xin được khá nhiều tài liệu bực
một (de première source)
ở nơi những vị kỳ cựu trong làng Tân Nhạc hoặc sống lâu năm bên Pháp như Nguyễn
Văn Cổn, hoặc di tản qua Hoa Kỳ như các nhạc sĩ Vũ Thành, Hải Linh, Thẩm Oánh…
trước khi các vị đó qua đời. Tôi cũng đã gặp nhạc sĩ Văn Giảng ở Australia, các
bạn đồng nghiệp khác hiện ở rất gần tôi như Nguyễn Hiền, Ngọc Bích v.v… để trao
đổi ý kiến về lịch sử Tân Nhạc.
Tôi không dám nuôi và
thực hiện một tham vọng quá lớn lao là viết một lược sử âm nhạc đương thời
(contemporary music) trong 50 hay 60 năm chuẩn
bị, thành lập và phát triển. Tôi chỉ xin đóng khung sự thành
hình của Tân Nhạc trong khoảng một giai đoạn trên dưới 10 năm, nghĩa là từ 1935
cho tới 1945, một giai đoạn mà tình hình đất nước đang chuyển mình rồi về sau
sẽ luôn luôn bị phân chia cho nên lòng người bị phân tán, sự thật về một ngành
nghệ thuật có thể bị che lấp bởi chiến cuộc liên miên.
Lẽ dĩ nhiên tôi sưu tầm
nhạc Văn Cao và kê khai toàn bộ nhạc phẩm của ông ta… trong đó có nhắc tới bài Buồn Tàn Thu mà tôi đem đi hát khắp
nơi… và vài bài tôi soạn chung
với ông.

Nhạc sĩ Phạm
Mạnh Đạt người chơi Hạ Uy Cầm đến thăm Nhạc sĩ Phạm Duy tại tư gia (Saigon 2009)
(Ảnh: Nhật Tấn)
HLNT: Từ ngày đầu về
Việt Nam đã có một bài thơ “Về thôi” nhà văn Lưu Trọng Văn có đề tặng
Phạm Duy và ông đã phổ với tựa đề “ Trăm năm bến cũ.” Và năm 2001 ông đã thực
hiện điều đó. Xin Nhạc sĩ cho biết tâm tình con người Việt với mảnh
đất Việt?
PD: Vào năm 1994, lúc tôi đã có ý định trở về sống
chết tại quê hương thì tôi nhận được một bài thơ của thi sĩ Lưu Trọng Văn, con
trai của người bạn cũ mà tôi rất yêu quý là Lưu Trọng Lư, đăng trên báo Lao Động ở Saigon với nhan đề “Về Thôi,
tặng: người tình già.” Bài thơ có những câu:
Làm gì có trăm năm mà đợi
Làm gì có kiếp sau mà chờ…
Đất Mẹ – Đất Nàng
Con sáo sang sông tha cọng rơm vàng
Lót ổ
Mười chín năm bến cũ
Người tình già ơi! nhớ không?
đi kèm với những câu:
Trăm năm bến cũ, có còn đó không?
. . . . . . .
Cây da bến cũ còn lưa,
O đò năm trước đi mô không về…
… để gọi một người trong nòi tình thì — dù tôi không còn cái
thú soạn ca khúc nữa — tôi đã phổ nhạc nó ngay.
Rồi tôi không ngần ngại
gì nữa, vào đầu năm 2000, khi có cơ hội được hồi hương… tôi đáp máy bay về Việt
Nam, có lẽ cũng chỉ vì có tiếng
gọi tha thiết của một thi sĩ, tiếng gọi mơ màng của một o đò, tiếng gọi nồng
nàn của tình yêu…
HLNT: Nhìn lại
chuỗi sáng tác chạy ngang dọc với nhiều thể loại trong đó có thể theo xu hướng
xã hội đương đại thì đặc biệt tục ca, vỉa
hè ca như hỗn hợp và thích ứng nhu cầu phát triển tại Việt Nam trong tương lai.
Xin nhạc sĩ kể rõ về cách nhìn “đi trước thời đại”
và bị nhiều người phản kháng, ca sĩ thì không hát, nay bị thất truyền?
PD: Trong quá trình sáng tác của tôi, có những lúc
tôi vui vì nước tôi đang tiến tới sự hưng thịnh thì tôi xưng tụng bằng những
“quê hương ca” ngọt ngào, cao sang, hoành tráng… Khi tôi cảm thấy quê hương tôi
đang lâm vào cảnh rối loạn thì tôi buồn giận và soạn ra những “xã hội ca” trần
trụi, tối ám, thê lương. Nghệ sĩ vốn là loại người bén nhậy cho nên hãy cho
phép tôi được “khóc cười theo mệnh nước”…
Nhưng nếu tôi chú trọng tới việc quảng bá mạnh mẽ những “quê
hương ca” thì tôi không muốn truyền bá “xã hội ca,” chứng cớ là “tục ca, vỉa hè
ca” không in được in ra và hát lên (nếu cần thì tôi cũng sẵn sàng khai tử
chúng). Cũng có thể trong tương lai, khi lòng người VN rộng rãi hơn là khi
chúng ta vừa ra khỏi thời tao loạn… thì “xã hội ca” sẽ được công nhận chăng?
HLNT: Từ những thập
niên 60 một số anh em nghệ sĩ thời bấy giờ có câu: “Bài thơ nào mà nhạc sĩ phổ
nhạc thì nổi lên…” kể ra như thơ của Huy Cận, Lưu trọng Lư, Hoàng Cầm, Vũ Hữu
Định… Tại sao lại có sự họa nguyện đó về tư chất người nhạc sĩ sáng tác.
PD: Trong quá khứ đã có “truyền thống hát thơ” : Truyện Kiều của Nguyễn Du là một lối hát gọi là
“kể kiều” (nghĩa là “ngâm” cũng thế), truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu đẻ ra lối “nói
thơ Vân Tiên,” dân ca VN là các lối hát phong dao, đồng dao, ca dao v.v…
Tôi nghĩ khi mình phổ nhạc những bài thơ mới là mình đã đi theo truyền thống cũ
vậy. Đừng cho rằng bài thơ nào mà tôi phổ nhạc cũng hay, có những bài dở ẹc!
HLNT: Xin ông kể vài kỷ niệm
giai thoại đáng nhớ về những tác phẩm thơ phổ nhạc thành công nhất của ông ?
PD: Tôi khởi sự sáng tác bằng việc phổ nhạc một bài
thơ hay : bài Cô Hái Mơ của Nguyễn Bính. Từ đó, tôi sống trong
một thời thơ mới Việt Nam nổi bật với rất nhiều thi phẩm đặc sắc và ngoài việc
soạn ca khúc của mình, tôi phổ nhạc rất nhiều bài thơ hay của Thế Lữ, Lưu Trọng
Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, Hữu Loan, Bích Khê, Phạm Thiên Thư, Cung Trầm Tưởng,
Nguyễn Tất Nhiên v.v… Các nhà thơ đó có gửi lời cám ơn tôi, nhưng thật ra tôi
phải cám ơn các thi nhân đó chứ !
HLNT: Xin chân thành cảm ơn Nhạc sĩ
Phạm Duy.
Huỳnh Lê Nhật
Tấn thực hiện