
Trong đời
Nguyễn Du có ba sự việc liên can đến Trung Quốc:
Năm 1803, Nguyễn Du được cử
lên trấn Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long.
Năm 1813 ông được thăng Cần chánh điện học sĩ
và được cử làm chánh sứ tại nhà Thanh
cho đến 1814.
Năm 1820 Gia Long qua
đời, Minh Mạng nối
ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo
tang và cầu phong nhưng ông bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 AL (16-9-1820) thọ 54
tuổi. Tương truyền: "Khi ốm nặng, ông không uống
thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ nói: đã lạnh rồi. Ông bảo: Được! Rồi mất.
Không trối lại một lời".
“Bắc hành
tạp lục” là tập thơ chữ Hán gồm 130 bài sáng tác trong những lần Nguyễn Du đi
Trung Quốc.
Ngoài ra,
ông còn hai tập thơ chữ Hán khác:
1 – “Thanh
Hiên thi tập” gồm 78 bài, sáng tác trong thời gian ông sống ở quê hương xứ Nghệ,
trước khi ra làm quan triều Nguyễn
2 - .”Nam
Trung tạp ngâm” gồm 40 bài, sáng tác trong thời ông làm quan triểu Nguyễn ở
Huế, Quảng Bình và một số địa phương khác từ Hà Tĩnh trở vào.
Phần này
chỉ điểm qua một vài bài thơ trong “Bắc hành tạp lục”.
*
Nguyễn Du
vốn rất đa sầu đa cảm, tuy nhiên khi dạo chơi hay lưu lạc ở một nơi nào trong
nước, nỗi buồn thi nhân chỉ thấy mang mang:
"Niên niên thu sắc hồn
như hử
Nhân tại tha hương bất tự tri".
(Giang
Đầu Tản Bộ)
(Hồn thu vẫn tự bao giờ
Người xa quê cũ chẳng ngờ đó thôi)
Hay:
“Vi lô san sát hơi may
Một trời thu để riêng ai một người” (Truyện
Kiều)
Nhưng ở
Trung Quốc, Nguyễn Du đã có những đêm:
Suốt đêm tiếng
thanh la đánh không ngừng,
Cô độc ngồi
bên ngọn đèn đến tận sáng.
Mấy tuần nhớ
nước lòng buồn như chết,
Ðường đi toàn
gặp kẻ không quen.
Chân núi đầy
bùn lún cả ngựa,
Bên khe suối
quái tinh già ẩn nấp.
Khách tha hương tình cảm
không có hạn,
Huống gì đường tới núi Yên
còn xa vạn dặm
(Triệt dạ la thanh bất tạm đình,
Cô đăng tương đối đáo thiên minh.
Kinh tuần khứ quốc tâm như tử,
Nhất lộ phùng nhân diện tẫn sinh.
Sơn lộc tích nê thâm một mã,
Khê tuyền phục quái lão thành tinh.
Khách tình chí thử dĩ vô hạn,
Hựu thị Yên Sơn vạn lý thành).
(Mạc Phủ Tức Sự)
- Và những cảm giác ghê rợn khi đi thuyền
trên sông Minh Ninh:
Trên ghềnh
nghe có tiếng gì?
Tựa như rồng
nước giận ầm ầm như sấm.
Dưới ghềnh
thấy có chuyện gì?
Như cung nỏ
căng bắn tên đi thật xa
Nước chảy muôn
dặm không ngừng,
Núi cao kề cận
bờ như bức tường thành.
Dẫy đầy hòn đá
dị kỳ xít nhau
La liệt tựa
như rồng, rắn, hổ, beo trâu ngựa
Lớn như nhà,
nhỏ như nắm tay cũng có
Hòn cao sừng
sững, hòn thấp ngủ nằm
Hòn thẳng như
chạy, hòn uốn như suối
Nghìn hình
muôn vẻ nói sao hết lời
Rắn rồng ẩn
hiện dưới sâu vực thẳm
Sóng vỗ ầm ầm
tung bọt ngày đêm
Mùa hạ nước lũ
mạnh như sôi sùi bọt
Cuộc hành
trình ba ngày thuyền, lòng dạ bồn chồn,
Lòng dạ bồn
chồn chứa nhiều lo sợ
Hiểm nguy
thuyền đắm biết chìm sâu mực nào
Rằng nghe
Trung Quốc đường bằng phẳng
Ngờ đâu đường
Trung Quốc lại thế này!
(Than thượng hà sở văn?
Ứng long kích nộ lôi điền điền,
Than hạ hà sở kiến?
Nỗ cơ kịch phát thủy ly huyền,
Nhất tả vạn lý vô đình yên,
Cao sơn giáp ngạn như tường viên.
Trung hữu quái thạch sâm sâm nhiên,
Hữu như long, xà, hổ, báo,ngưu, mã la kỳ
tiền.
Đại giả như ốc, tiểu như quyền.
Cao giả như lập, đê như miên,
Trực giả như tẩu, khúc như tuyền,
Thiên hình vạn trạng nan tận ngôn.
Giao ly xuất một thành trùng uyên.
Dũng đào phún mạt nhật dạ thanh hôi
huyên.
Hạ lạo sơ trướng phí như tiên.
Nhất hành tam nhật tâm huyền huyền,
Tâm huyền huyền đa sở úỵ
Nguy hồ đãi tai cốt một vô để,
Công đạo Trung Hoa lộ thản bình,
Trung Hoa đạo trung phù như thị!)
(Ninh Minh Giang Chu Hành)
- Cảm giác ấy đã xuất hiện
ngay từ khi qua cửa ải Quỷ Môn ở Lạng Sơn:
Thương cho
biết bao người phải đi qua lại.
Gai chông lấp
cả đường lối, đầy rắn hổ ẩn nấp,
Khí chướng bốc
đầy, ma quỷ tụ họp.
Gió lạnh suốt
đời xưa thổi vào xương cốt trắng,
Công nghiệp lạ
của tướng nhà Hán có chi mà đáng khen?
(Khả liên vô số khứ lai nhân.
Tắc đồ từng mãng tàng xà hổ,
Bố dã yên lam tụ quỉ thần.
Chung cổ hàn phong xuy bạch cốt,
Kỳ công hà thủ Hán tương quân) (1)
(Quỉ Môn Quan)
(1) - Câu “Kỳ công hà thủ Hán tương quân” nhắc
chuyện Mã viện mang quân sang đánh Giao chỉ đã làm cho bao nhiêu lính Tàu vùi
xương. Nguyễn Du bảo, sao gọi thế là chiến công được!
- Rồi, bao nhiêu câu hỏi lần
khuất, ngay từ khi đến cửa thành Ải Nam Quan:
Lý Trần cựu sự diểu nan tầm,
Tam bách niên lai trực đáo câm (kim).
Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện,
Nhất quan hùng trấn vạn sơn tầm.
Địa thiên mỗi vị truyền văn ngộ,
Thiên cận tài tri giáng trạch thâm.
Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,
Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.
(Trấn
Nam
Quan)
(Chuyện cũ Lý
Trần khó mà tìm hiểu,
Ba trăm năm
trở lại đến bây giờ.
Hai nước phân
chia tại cửa thành này,
Một cửa ải
hùng vĩ giữa muôn ngọn núi.
Lời truyền lại
gây hiểu lầm trong trời đất,
Gần mặt trời
thấm nhuần mưa giáng xuống.
Thiếu xa vương
quay đầu trông qua tầng mây biếc,
Nhạc quân
thiều dư âm còn nghe thấy trong tai).
Cứ thế, cứ
thế, những câu hỏi, những suy tư về quan hệ hai nước trong lịch sử xuất hiện đó
đây:
- Đến miếu Mã Phục Ba, Nguyễn Du gợi chuyện Mã
Viện.
Mã Viện người
đời Đông Hán đã ngoài 60 vẫn còn muốn đi đánh trận lập công, vua không muốn cho
đi, Mã Viện mặc áo giáp nhảy lên ngựa tỏ mình còn khỏe, được vua cười khen, phong
là Phục Ba tướng quân. Tương truyền khi sang Giao Chỉ, Mã Viện cho dựng cột
đồng trụ ở Quảng Tây để phân định ranh giới đất Hán.
Khi từ Giao
Chỉ về Mã Viện có chở theo một xe hạt làm thuốc chữa bệnh nhưng bị gian thần tố
cáo là chở ngọc châu về. Vua giận, nên vợ con không giám mang thây Mã Viện về
quê mà chỉ chôn sơ sài ở Tây Thành.
Vua Hán Quang
Vũ cho vẽ chân dung 28 vị công thần ở gác Vân Đài, không có Mã Viện, vậy mà
người ta lại bắt dân Việt lập đền thờ. Nguyễn Du chê trách việc làm này:
Lục thập lão nhân cân lực suy,
Cứ an bị giáp tật như phi.
Điền đình chỉ bác quân vương tiếu,
Hương lý ninh tri huynh đệ bi.
Đồng trụ cận năng khi Việt nữ,
Châu xa tất cánh lụy gia nhi.
Tính danh hợp thướng Vân Đài họa,
Do hướng Nam trung sách tuế thì?
(Giáp Thành Mã Phục Ba Miếu)
(Ông già sáu
mươi sức đà kém,
Vẫn áo giáp
phóng lên ngựa nhanh như bay.
Nơi cung điện
mong chuốc được nụ cười của vua,
Chẳng kể đến
nỗi thương xót của anh em.
Cột trụ đồng
chỉ lừa phụ nữ Việt,
Xe ngọc mang
về thêm lụy vợ con.
Gác Vân Đài
tên ông nên được vẽ,
Chứ sao phương
Nam
lại phải thờ cúng ông?)
- Chuyện Mã Viện còn được mai
mỉa trong bài “Thơ Đề Miếu Mã Phục Ba Ở Đại Than”:
Tạc thông lĩnh đạo định Viêm khư,
Cái thế công danh tại sử thư.
Hướng lão đại niên căng quắc thước,
Trừ y thực ngoại tẫn doanh dư
Ðại Than phong lãng lưu tiền liệt,
Cổ miếu tùng sam cách cố lư.
Nhật mộ thành tây kinh cức hạ,
Dâm đàm di hối cánh hà như.
(Đề Ðại Than Mã Phục Ba Miếu)
(Mở đường Ngũ
lĩnh qua đánh gò Viêm,
Tên tuổi công
danh lưu trong sử sách.
Về già tuổi
lớn còn khoe sức,
Ngoài cơm ăn
áo mặc, gì cũng thừa.
Sóng gió Đại
Than lưu tên ngày trước,
Miếu cũ tùng
bách xa cách làng cũ.
Trong chiều
tối phía tây thành đầy cây gai
Nơi Hồ Tây lời
hối giờ ra sao?)
Tương truyền, khi
Mã Viện xin được lãnh nhiệm sang đánh Hai Bà Trưng, em họ là Thiều Du nói:
“Người ta sinh ra cốt ăn mặc vừa đủ thôi, nếu cầu thêm thừa thãi thì chỉ khổ
thân.”. Đóng quân ở Dâm Đàm (Hồ Tây), thấy mặt hồ đầy khí lam chướng, diều lượn
mặt hồ. Mã Viện nghĩ hối hận nói: “Nay nghĩ lại lời Thiếu Du thấy nói đúng nhưng
không làm sao được nữa”
- Đi qua đất cũ của Triệu Đà, Nguyễn Du nhắc
chuyện đế vương, phiên thần:
Khả liên thế đại tương canh diệt,
Bất cập man di nhất lão phu.
(Triệu Vũ Đế cố cảnh)
Thương cho
thời đại đời thay đời,
Chẳng bằng ông
lão đất man di.
Khi nhà Tần
suy vong, Triệu Vũ Đế, tức Triệu Đà nổi lên hùng cứ một phương tự xưng Nam Việt
Vũ Vương. Hán Cao Tổ lên ngôi, sai Lục Giả xuống phong Triệu Đà làm Nam Việt
Vương. Sau khi chiếm thêm mấy ấp ở Trường Sa, Triệu Đà xưng Nam Việt Vũ Đế. Hán
Văn Đế lại sai Lục Giả xuống dụ bỏ hiệu đế để giữ chức phiên thần. Trên đây là
câu của Triệu Đà ghi tờ biểu đưa cho Lục Giả về dâng Hán Văn Đế.
Ngoài quan hệ
Việt Trung, Nguyễn Du còn nêu những nhận xét về chính trị-xã hội Trung Quốc
- Đây là nghịch cảnh nơi triều chính:
Hoàng Sào Binh
Mã
Đại tiểu Hoa sơn sổ lý phân,
Hoàng Sào di tích tại giang tân.
Khởi tri Kim Thống Tần trung đế,
Nãi xuất Tôn Sơn bảng ngoại nhân.
Ngộ quốc mỗi nhân câu hạn lượng,
Cùng thời tự khả biến phong vân.
Viễn lai nghĩ vấn thiên niên sự,
Giang hộ dao đầu nhược bất văn.
(Hoàng Sào Binh Mã)
(Núi Hoa lớn
nhỏ chia cách nhau vài dặm,
Hoàng Sào lưu
lại di tích ở bến sông.
Biết là vua
Kim Thống của đất Tần.
Là người đội
sổ bảng thi như Tôn Sơn,
Lỡ lầm việc
nước vì gia phép câu nệ hẹp hòi,
Gặp thời tận
cũng biến hóa được chuyện gió mâỵ
Khách từ xa
muốn hỏi chuyện ngàn năm trước,
Ông lái thuyền
chỉ lắc đầu không thốt lời).
Hoàng Sào là
người đời Đường, quê ở Sơn Đông, học giỏi, nghĩa hiệp, hay cứu giúp người nghèo,
sau một cuộc khởi nghĩa kéo dài 10 năm (875-884), Hoàng Sào vào được Trường An,
lên ngôi Hoàng Đế, quốc hiệu Đại Tề; trong khi vua Kim Thống chỉ vào hạng Tôn
Sơn là người đội sổ bảng thi.
- Đây là cung cách cư xử với công thần:
Trung nguyên đại thế dĩ đồi đường,
Kiệt lực cô thành khống nhất phương.
Chung nhật tử trung tâm bất động,
Thiên thu địa hạ phát do trường
Tàn Minh miếu xã đa thu thảo,
Toàn Việt sơn hà tận tịch dương
Cộng đạo Trung Hoa thượng tiết nghĩa,
Như hà hương hỏa thái thê lương.
(Quế Lâm Cù Các Bộ)
(Triều đại lớn
Trung Nguyên đã suy xụp,
Ông sức tàn
vẫn nhất định giữ thành.
Ngày chót sắp
chết tâm không thay đổi,
Ngàn năm dưới
lòng đất tóc vẫn dài.
Miếu xã nhà
tàn Minh đầy cỏ thu,
Vùng đất núi
Việt nhuốm bóng chiều tà.
Dân Trung Hoa
nghe nói trọng tiết nghĩa,
Sao đây hương
khói tiêu điều thảm thê).
Cù Các Bộ tức Cù
Thức Trĩ người đời Minh, làm quan được tới chức Lâm Quế Bá. Lúc Mãn Châu chiếm
Trung Quốc, vua Minh chạy vào Vân Nam, ông ở lại giữ thành Quế Lâm
(Quảng Tây). Thành bị vây hãm, Thức Trĩ chết theo thành.
- Đây là số phận kẻ tài hoa và
những bất công xã hội:
Thái Bình cổ sư thô bố y,
Tiểu nhi khiên vãn hành giang mi
Vân thị thành ngoại lão khất tử,
Mại ca khất tiền cung thần xuy.
Lân chu thời hữu hiếu âm giả,
Khiên thủ dẫn thướng thuyền song hạ.
Thử thời thuyền trung ám vô đăng,
Khí phạn bát thủy thù lang tạ.
Mô sách dẫn thân hướng tọa ngung.
Tái tam cử thủ xưng đa tạ.
Thủ vãn huyền sách khẩu tác thanh,
Thả đàn thả ca vô tạm đình.
Thanh âm thù dị bất đắc biện,
Đãn giác liêu lượng thù khả thinh.
Chu
tử tả tự vị dư đạo:
”Thử khúc Thế Dân dữ Kiến Thành”. (1)
Quan giả thập số tịnh vô ngữ,
Đãn kiến giang phong tiêu tiêu giang
nguyệt minh.
Khẩu phún bạch mạt, thủ toan xúc,
Khước tọa, liễm huyền, cáo chung khúc.
Đàn tận tâm lực cơ nhất canh,
Sở đắc đồng tiền cận ngũ lục.
Tiểu nhi dẫn đắc há thuyền lai,
Do thả hồi cố đảo đa phúc.
Ngã sạ kiến chi, bi thả tân:
Phàm nhân nguyện tử bất nguyện bần.
Chỉ đạo Trung Hoa tẫn ôn bão,
Trung Hoa diệc hữu như thử nhân!
Quân bất kiến sứ thuyền triêu lai cung
đốn lệ.
Nhất thuyền, nhất thuyền doanh nhục mễ.
25
Hành nhân bão thực tiện khí dư,
Tàn hào lãnh phạn trầm giang để.
(Thái Bình Mại Ca Giả)
(Ở Thái Bình
có người mù mặc áo vải thô,
Cùng đứa trẻ
dẫn đường bên bờ sông.
Già lão hành
khất ngoài thành,
Hát rong kiếm
tiền bát gạo nấu ăn.
Thuyền bên
cạnh có người ưa nghe hát,
Nắm tay dẫn
xuống sát cửa thuyền.
Bấy giờ thuyền
tối không ánh đèn,
Cơm rớt, canh
trào đổ bừa bãi.
Già mù sờ
soạng ngồi một góc,
Hơn ba lần giơ
tay xin cám ơn.
Tay
nắn giây đàn cất tiếng hát vang,
Đàn hát một
hơi không ngừng không nghỉ.
Lời ca tiếng
lạ ta không hiểu được,
Nhưng âm điệu
réo rắt dễ nghe
Nhà thuyền
viết giấy cho hay:
“Đây là bài
hát Thế Dân Kiến Thành”.
Hơn mười thính
giả lặng ngắt như tờ,
Trong gió hiu
hiu, trên sông trăng sáng.
Ông già miệng
sùi bọt, tay rời rã,
Ngồi lại, đặt
đàn thưa hát đã xong.
Gắng hết sức
lực hầu một trống canh,
Lượm nhặt lên
được năm sáu đồng tiền.
Đứa trẻ nhỏ
dắt lão rời bờ thuyền,
Còn ngoảnh lại
ngỏ lời chúc phúc.
Ta thấy thế mà
trạnh lòng thương sót ,
Là người thà
chết còn hơn nghèọ
Ta thường nghe
đất Trung Hoa no ấm,
Sao Trung Hoa
cũng có kẻ khổ thế nàỵ
Biết lệ cung
phụng đoàn đi sứ thuyền hàng ngày,
Thuyền nào
thuyền nấy thịt gạo ê hề.
Mọi người ăn
uống no nê, dư thừa vứt bỏ,
Cơm nguội,
thức ăn thừa đổ chìm xuống đáy sông.
Cho nên, hỡi
các hồn oan, xin hãy đừng về, vì: “Đông tây nam bắc không nơi tựa/ Lên trời
xuống đất đều không ổn”, vì: “Mặt đất đâu đâu đều là sông Mịch La ” – nơi Khuất
Nguyên đã phải dầm mình tự vẫn.
Hồn hề ! Hồn hề ! hồ bất qui?
Đông tây nam bắc vô sở ỵ
Thướng thiên há địa giai bất khả,
Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi? (1)
Thành quách do thị, nhân dân phi,
Trần ai cổn cổn ô nhân ỵ
Xuất giả khu xa, nhập cứ tọa,
Tọa đàm lập nghị giai Cao, Quì. (2)
Bất lộ trảo nha dữ giác độc,
Giảo tước nhân nhục cam như di !
Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu,
Chỉ hữu sấu tích, vô sung phì.
Hồn hề ! Hồn hề ! suất thử đạo
Tam Hoàng chi hậu phi kỳ thì. (3)
Tảo liễm tinh thần phản thái cực, (4)
Thận vật tái phản linh nhân xi,
Hậu thế nhân gian giai Thượng Quan (5)
Đại địa xứ xứ giai Mịch La, (6)
Ngư long bất thực, sài hổ thực,
Hồn hề ! Hồn hề ! nại hồn hà?
(Phản Chiêu Hồn)
(Hồn ơi! Hồn
ơi! sao chẳng về?
Đông tây nam
bắc không nơi tựa.
Lên trời xuống
đất đều không ổn,
Đất Yên đất
Dĩnh về làm chi?
Thành quách
chẳng khác xưa nhưng lòng dân đã khác,
Bụi nhiều
nhuốm bẩn dơ quần áo.
Đi ra thì xe
ngựa, ở nhà thì vênh váo,
Ngồi bàn tán
chuyện ông Quì ông Cao.
Không hề để lộ
nanh vuốt ác độc.
Nhưng cắn xé
người ngọt như đường!
Hồn có thấy cả
trăm châu vùng Hồ Nam,
Toàn người gầy
ốm có ai mập đâu.
Hồn ơi! Hồn
ơi! nếu theo đường đó,
Thì sau Tam
Hoàng nay đã lỗi thời.
Sao bằng thu
thập tinh thần về với cõi hư vô,
Chớ về làm chi
để người mai mỉa.
Đời sau ai ai
cũng Thượng Quan cả,
Mặt đất đâu
đâu đều là sông Mịch La.
Cá rồng mà
không ăn thì hùm beo cũng nuốt,
Hồn ơi! Hồn
ơi! biết làm sao đây?)
*
Sử sách ghi
rằng để củng cố mối bang giao hữu hảo, đồng thời đề phòng ý đồ tái lập ách đô
hộ của Trung Quốc, các vua Nguyễn, đặc biệt là vua Minh Mạng rất quan tâm đến
tình hình nhà Thanh. Ông đã yêu cầu sứ thần đi sứ nhà Thanh viết “Sứ trình nhật
ký” và phải viết chi tiết những điều mắt thấy tai nghe ở Trung Quốc. Tháng 4
năm 1832, vua Minh Mạng khiển trách ba sứ giả được cử đi đã chỉ ghi đại khái về
tình hình nhà Thanh không như ý đồ của ông. Ông ra lệnh, sau này các sứ giả
phải ghi lại chính xác tình hình nhà nước và dân tình nhà Thanh còn những địa
danh, v.v… đã biết thì không cần phải ghi lại. Phải chăng Nguyễn Du đã thực
hiện nhiệm vụ sứ thần này bằng thơ.
Nguyễn Thanh Giang
(Hà Nội. Thu Tân Mão)